Thứ sáu, 13/12/2019

Suy Niệm Tin Mừng Tam Nhật Thánh

Cập nhật lúc 20:19 16/04/2019
Thứ Năm Tuần Thánh
Suy niệm 1
Bữa tiệc ly của Chúa Giêsu
------------------
Không bao giờ một mình
Lễ Thứ Năm Tuần Thánh này là lễ biểu lộ sự hiện diện tích cực của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta: với mỗi người, với Giáo Hội và với thế giới. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã thực hiện lời hứa này: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi.” 
Cử hành lễ tưởng niệm này, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta thấy hai cách mà Ngài muốn hiện diện với chúng ta và trở thành người phục vụ chúng ta. Đó là hành động rửa chân, và sau đó là cái chết của Người trên thập tự giá, được hiện tại hóa qua bí tích Thánh Thể. 
Ngay từ đầu bữa Tiệc Ly, trong lúc rửa chân, Chúa Giêsu quỳ gối xuống với một cử chỉ hiện diện phi thường với các môn đệ. Các môn đệ là những người mà Ngài không còn gọi là tôi tớ nữa nhưng là bạn hữu. Chính hôm nay Chúa Giêsu cũng đang hiện diện trước mặt chúng ta và rửa chân chúng ta. Ngài muốn làm như vậy giống như một chủ nhà đón tiếp vị khách mệt mỏi bước vào nhà mình. Ngài như ông chủ nói với vị khách đó và nói với mỗi người chúng ta: “bây giờ xin quý khách hãy nghỉ ngơi, chúng ta sẽ có những khoảnh khắc trao đổi cho nhau những điều tốt đẹp nhất”.
Người tôi tớ
Chúa Giêsu không những như một người chủ nhà, mà còn là người tôi tới, người phục vụ. Ngài tôn trọng bạn hữu bằng cách phục vụ từng người và mời họ phục vụ nhau, hiện diện với nhau.  Vào lúc rửa chân, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta thấy rằng nơi Ngài, chính Thiên Chúa ở trong nhà của Ngài và tiếp đón chúng ta ở đó.  Chúa Giêsu mời gọi chúng ta có một cái nhìn nhân từ, tôn trọng tất cả những người mà chúng ta gặp trong cuộc sống, bạn bè hoặc người lạ. Một cách nào đó, tất cả họ là sứ giả của Thiên Chúa, giống như những vị khách mà Áp-ra-ham đã cúi đầu trước mặt họ. 
Đúng! Đôi khi có những người mà chúng ta cảm thấy khó hiện diện với họ, như thể chúng ta không mong đợi được gì nơi họ. Họ không có cùng ý tưởng như chúng ta, họ không tin như chúng ta... Hoặc vì họ có cái gì đó trong quá khứ mà chúng ta không muốn gặp lại và mời họ. Và tất cả những người chúng ta từ chối. Nhìn chung họ không thực sự tin cậy chúng ta. Các môn đệ của Chúa Giêsu, tại thời điểm rửa chân, đã khám phá ra họ cần tin cậy vào Chúa Giêsu biết bao...Vì thế, mỗi người chúng ta hãy cố gắng thể hiện thiện chí trong tình yêu thương và đón nhận mọi người, để dần dần họ có thể tin tưởng vào chúng ta!
Một mẫu gương
Trong khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã nói với họ: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”. Nghe câu nói này và cử chỉ của Chúa Giêsu, chúng ta nhớ tới một câu nói khác trong Kinh Thánh mà Thiên Chúa nói với chúng ta: “bạn có giá trong mắt tôi”. Chúng ta rất có giá trị trước mặt Thiên Chúa đến nỗi Ngài sẵn sàng không chỉ cúi xuống trước chúng ta để rửa chân cho chúng ta, mà Ngài còn chuẩn bị chết trên thập giá để đưa chúng tôi trở lại cuộc sống. 
Bí tích Thánh Thể
Vì thế hôm nay chúng ta tràn đầy niềm vui khi cử hành lễ Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể.  Qua đó, Chúa Giêsu hiện diện với chúng ta một cách tích cực nhất. Ngài thực sự hiện diện với toàn thể thân xác đã phục sinh của Ngài. Thân thể này luôn được đánh dấu bởi những đau khổ Ngài phải chịu vì chúng ta. 
Qua bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô đến nói với chúng ta rằng chúng ta luôn luôn có sự hiện diện của Ngài, sự sống của Ngài, vẻ đẹp vĩnh cửu của Ngài. Chính thân thể chúng ta, toàn thể con người chúng ta, mà Thiên Chúa đã đến để ở và cứu độ. Chúa Giêsu đã nói nhiều lần với các môn đệ, là những chứng nhân về các phép lạ Ngài làm: “Anh em sẽ còn thấy những điều tuyệt vời hơn nữa”. Đôi mắt thân xác chúng ta được biến đổi nhờ sự phục sinh của Chúa, được chiếu sáng từ bên trong, sẽ luôn "nhìn" Ngài có thân hình cúi xuống chúng ta và làm chúng ta khám phá ra ý nghĩa của tình yêu. 
Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”! Vì thế, qua nhiều thế kỷ, Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta và yêu cầu chúng ta làm cho Ngài hiện diện với thế giới qua quà tặng vĩnh cửu của tình yêu Ngài. Chúng ta sẽ làm điều đó cho đến khi Ngài đến: “Lạy Chúa chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”!
Lạy Chúa Giêsu,
- Xin tình yêu chúa biến đổi chúng con để chúng con cũng có thể biến đổi người khác!
- Xin làm cho chúng con biết khiêm nhường cúi xuống, để chúng con có thể giúp người khác sống khiêm nhường.
- Chúa đã nuôi sống chúng ta bằng bánh Thánh Thể, xin cũng giúp chúng con trở nên người nuôi sống anh chị em chúng con. Amen!
Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa
====================
Suy niệm 2
ĐỈNH CAO CỦA MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ LÀ TÌNH YÊU
(Ga 13, 1 – 15)
Trong cuộc sống, nơi các gia đình, nhất là văn phong của Việt Nam, chúng ta rất coi trọng bữa ăn. Nơi bữa ăn, niềm vui, nỗi buồn, thành công hay thất bại, thường hay được giải quyết. Có những bữa ăn để chia tay; có những bữa ăn để lên đường. Chia tay hoặc lên đường thường hay để lại nhiều kỷ niệm nơi người đi và kẻ ở.
Hôm nay, Đức Giêsu quy tụ các Tông đồ là những người thân tín với Ngài trong suốt chặng đường rong ruổi loan báo Tin Mừng. Ngài quy tụ họ, để trao lại cho họ một tặng phẩm thần linh là Bí tích Thánh Thể và truyền cho các ông hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ngài. Qua đó, như một sự hiện hữu sau khi chết, để khi còn sống, Đức Giêsu ở cùng với các ông thế nào, thì ít ngày nữa thôi, Ngài cũng hiện diện và ở lại với các ông cách vô hình nhưng trọn vẹn nơi Bí tích cao trọng là chính Thánh Thể Ngài. Mặt khác, qua bữa tiệc này, phần cuối cùng của bữa tiệc, Đức Giêsu hành động và  trăng trối những lời tâm huyết để xây dựng cộng đoàn Giáo Hội đó là: “luật yêu thương”.
Một tặng phẩm cao quý được trao tặng
Nếu trong cuộc sống, hai người yêu nhau, họ thường có những lời lẽ chân tình, ấm áp để thể hiện tình yêu của mình cho người mình yêu. Khi đi xa, người ta hay trao tặng cho nhau những kỷ vật trân quý, để dù xa mặt chứ lòng thì không. Qua món quà đó, với người đón nhận thì tặng vật đó không chỉ đơn thuần là một kỷ niệm, nhưng nó còn là sự hiện hữu của chính người tặng quà.
Cũng vậy, khi Đức Giêsu biết “giờ” của mình sắp trở về với Thiên Chúa Cha, nên Ngài đã yêu thương họ đến cùng khi trao ban chính thân mình làm của nuôi sống môn sinh.
Chiều hôm nay, chúng ta kỷ niệm việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Đây là Bí tích cao trọng nhất trong 7 Bí tích. Cao trọng bởi vì qua Bí tích này, Đức Giêsu hiến dâng thân mình làm của  ăn của uống để nuôi sống nhân loại và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngài yêu thương và yêu hết mình. Yêu đến nỗi bằng lòng chịu chết để miễn sao người mình yêu được hạnh phúc.
Thật vậy, Ngài đã trao ban chính Thân Mình làm bảo vật, để mỗi khi các Tông đồ cũng như những người tin, cử hành và tưởng nhớ, thì Ngài hiện diện cách bản thể hữu hình nơi mầu nhiệm cử hành. Khi đó, Đức Giêsu trở nên đồng hình đồng dạng với người đón nhận, để từ đây, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Ôi, còn gì cao quý và hạnh phúc cho bằng ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa với Đấng là Thiên Chúa nhưng lại chia sẻ thân phận con người với chúng ta!
Lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha làm toát lên đặc tính kỳ diệu này:“... như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Giáo Hội tiếp diễn ý nghĩa hiệp thông với mọi thành phần khi đã liên kết với Đức Giêsu, qua Kinh Tiền Tụng Thánh Thể: “Chúng con nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần”. 
Qua Bí tích này, mỗi người được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa thông qua bản thể Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, đồng thời cũng được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một thân thể.
Một dấu tích sống động được tiếp diễn
Sau khi Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể, ngài đã thiết lập Bí tích Truyền Chức liền sau đó như một sự liên hệ, liền mạch và mật thiết với nhau. Đúng thế, không thể có Thánh Thể nếu không có người cử hành Thánh Thể. Vì thế, Đức Giêsu đã trao ban thừa tác vụ đặc biệt cho các Tông đồ, để sau này, các ông sẽ đảm trách những việc làm như Đức Giêsu vừa làm cho đến ngày tận thế.
Thoạt mới nghe, chúng ta dễ tưởng lầm là Bí tích này chỉ có liên hệ hay dành riêng cho các linh mục? Nhưng không! Bí tích này liên hệ chặt chẽ với cộng đoàn, bởi vì Bí tích này thuộc về nhóm Bí tích xây dựng cộng đoàn.
Thật thế, chức vụ linh mục không phải cho bản thân mình, vì các ngài không thể tha tội cho mình, các ngài cũng không thể ban phát các Bí tích cho mình. Vì thế, linh mục là của mọi người, cho mọi người và vì mọi người.
Nếu Đức Giêsu trước kia đã đến để cho con chiên được sống dồi dào, thì ngày nay các linh mục cũng được trao ban  trách vụ như thế. Ôi huyền nhiệm và cao quý vô lường! Qua Bí tích Truyền Chức, Đức Giêsu hiện diện cách trực tiếp khi các linh mục cử hành phụng vụ trong vai trò đại diện cho Đức Giêsu là Đầu của thân thể. Và, như thế, mỗi người chúng ta luôn được các ngài chăm sóc, nên không bị rơi vào tình cảnh bơ vơ, mồ côi vì không người chăn dắt. Các ngài sẽ thay mặt Chúa, thi hành việc của Chúa trong vai trò lãnh đạo, phục vụ và thánh hóa vì tình yêu.
Một lời trăng trối tâm huyết muôn đời nhớ mãi
Cũng chiều hôm nay, mỗi chúng ta quây quần nơi đây, để nghe đọc lại di ngôn và lệnh truyền của Đức Giêsu về tình yêu. Lệnh truyền này mang tính khẩn trọng, người môn đệ phải có thái độ mau mắn thi hành. Vì thế, đòi hỏi người môn đệ một sự bất khả từ, bởi lẽ đây là điểm sáng, là cốt lõi, là bản chất thiết yếu của người mang danh Đức Kitô trong mình.
Thật vậy, Đức Giêsu không chỉ trao ban chính Thân Mình để nuôi sống nhân loại, mà Ngài còn dạy cho các Tông đồ bài học về tình yêu, để đưa các ông vào qũy đạo của chính Ngài là “yêu và yêu đến cùng”.
Ngài nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu như Thầy là yêu như thế nào? Thưa yêu như Thầy chính là trở thành người tôi tớ phục vụ, là chấp nhận chết cho người khác được sống. Không những dạy các ông bằng lời, mà Ngài còn làm gương cho các ông noi theo. Vì thế, ngay lập tức, Ngài đứng lên, cởi áo choàng, thắt lưng, lấy nước rửa chân cho từng Tông đồ trước sự hết sức ngỡ ngàng của các ông. Ngỡ ngàng là phải, vì hành vi rửa chân là việc làm của người nô lệ dành cho ông chủ. Nhưng hôm nay, Đức Giêsu đã làm đảo lộn vai trò và vị trí khi tự làm những việc dành cho người hầu hạ, và các Tông đồ trở nên những ông chủ.
Sau khi đã rửa chân cho các ông, Đức Giêsu nói tiếp: “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15). Qua hành động rửa chân cho các Tông đồ, Đức Giêsu để lại cho các ông bài học về đức khiêm nhường và phục vụ. Tuy nhiên, để thực hiện được hai nhân đức này thì cần phải có tình yêu làm động lực.
Tình yêu thương được hiện lên như một ngọn hải đăng giữa biển khơi tăm tối, giúp cho mọi người nhận ra đường để đi và đi đến nơi an toàn. Vì thế Đức Giêsu đã dạy cho các ông biết trước viễn cảnh trong tương lai khi nói: “... mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13, 35).
Sống linh đạo Thánh Thể và thực hiện lời trăng trối của Đức Giêsu
Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”  (1 Cr 11, 26).
Là người kitô hữu, chúng ta tin Chúa, yêu Chúa và đều mong muốn được ơn cứu độ, thì không có lẽ gì chúng ta không sống linh đạo Bí tích này.
Nếu muôn ngàn hạt lúa kết thành tấm bánh, bao trái nho ép thành chén rượu, tượng trưng cho sự hiệp nhất của con cái Chúa, thì mỗi người chúng ta cũng phải hiệp nhất với nhau như vậy.
Muốn được như thế, tinh thần sống mầu nhiệm tự hủy của hạt lúa, trái nho luôn được mời gọi và thôi thúc thi hành.
Trong đời sống gia đình, người chồng phải là người chồng mẫu mực, sẵn sàng hy sinh gánh vác vì tình yêu với vợ và các con. Người vợ hãy hết lòng lo cho con cái, chăm lo cho chồng và con tử tế. Con cái biết ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ... Làm được như thế, ấy là chúng ta đang thực hiện di ngôn của Đức Giêsu trong tinh thần hy sinh và phục vụ.
Nếu không yêu thương nhau, thì chẳng khác chi hạt lúa mì trơ trọi một mình, không sinh hoa trái. Nhưng yêu thương những người lân cận với mình thôi thì chưa đủ, mà phải yêu thương hết mọi người như Đức Giêsu đã yêu. Ngài đã không loại trừ Giuđa là kẻ rồi đây sẽ bán mình; không bỏ lại Phêrô là người sẽ thề sống thề chết không biết mình; không lên án và trách móc những người hại mình, mà: “Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34)
Mong sao sứ điệp Lời Chúa hôm nay luôn ở bên tai, qua hành động và trong trái tim của chúng ta, để chúng ta yêu và yêu không giới hạn như Đức Giêsu. 
Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tạ ơn Chúa đã để lại cho chúng con Bí tích kỳ diệu là chính Thánh Thể Chúa làm của ăn của uống cho mỗi chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến, tin tưởng và mau mắn loan truyền cho tới khi Chúa đến trong vinh quang. Xin cũng cho mọi suy nghĩ và hành động của chúng con được tình yêu làm căn cốt và thúc đẩy, để như Chúa, chúng con sẽ yêu rồi mới làm.Amen.
Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.
=====================
Thứ Sáu Tuần Thánh
Suy niệm 1
Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm!
------------
Hôm nay, Chúa Giêsu chết trên thập giá để cứu độ toàn thể nhân loại. Trước khi chết, Chúa cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Như vậy, nhiều người có thể đưa ra một câu hỏi:
Khi giảng dạy trên đất nước Palestina, Chúa Giêsu đã nói: “Mọi tội chống lại Con Người thì sẽ được tha, nhưng tội chống lại Chúa Thánh Thần không thể tha thứ được”. Nếu thế,
- Phải chăng Chúa Giêsu đã chết vô ích cho một số người?
- Phải chăng có một số người sẽ không bao giờ được tha thứ trong thế giới này cũng như thế giới khác sao?
- Phải chăng có một số người sẽ chết không chỉ vì một cái chết đã qua, mà còn cả cái chết vĩnh cửu? 
Tội nào là tội chống lại Chúa Thánh Thần? Toàn bộ ơn cứu độ vẫn nằm ngoài tầm tay đối với những ai? 
- Phải chăng những ai trách móc Thiên Chúa vì những tệ nạn và đau khổ đang vây quanh họ? 
- Phải chăng là các Thầy Thượng Phẩm đã kết án Chúa đến chết?
- Phải chăng là những người, giống như Phê-ro, tin rằng họ luôn có khả năng theo Chúa Giêsu, nhưng lại chối Chúa ngay từ cơ hội đầu tiên...?
- Phải chăng là những người bị đóng đinh một cách công bằng hay bất công, quay sang Chúa Giêsu, hét lên:“Nếu ông là Đấng Kito, hãy tự cứu mình đi và cả chúng tôi với”!
- Phải chăng là đám đông dân chúng, hôm trước tung hô Chúa, nhưng hôm sau lại đả đảo Chúa: “Đóng đinh nó đi. Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào cây thập giá”?
Nếu chỉ một tội thôi vẫn không được tha thứ, thì:
- Tình yêu không biên giới của Thiên Chúa chưa được mạc khải sao?
- Hạnh phúc sống dưới cái nhìn của một Thiên Chúa đến trần gian không phải là để luận phạt nhưng là để cứu độ, đã bị rút lại rồi ư?
- Thiên Chúa ban cho chúng ta hạnh phúc bất tận, nhưng lại làm cho chúng ta trở nên người bất hạnh nhất sao?.
Lạy Cha, xin tha cho họ.
Khi bị đóng đinh trên thập giá, Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Chúng ta tin rằng Chúa Cha nhận lời Con yêu dấu của Ngài. Chúa Cha tha thứ tất cả tội lỗi của những ai đã phạm: dẫn đến cái chết của Con Ngài trên thập giá:
- Là các thầy cả thượng phẩm,
- Là anh trộm trách móc Chúa, nhưng anh không biết điều anh nói...
Không ai trong số những người tội lỗi nằm ngoài tầm với của tình yêu Thiên Chúa.  Đối với tất cả chúng ta, sự tha thứ của Chúa là vô hạn, vô điều kiện và miễn phí! Chúa Giêsu đã không chết trong vô vọng! Ngài đã chết vì tình yêu điên rồ để tha thứ cho chúng ta! Có lẽ ngày nay chúng ta gặp khó khăn khi tin vào điều đó. Có lẽ con tim chúng ta lên án chúng ta. Nhưng như thánh Gioan tông đồ nói: “Thiên Chúa vĩ đại hơn con tim chúng ta”. Sẽ có ngày chúng ta khám phá ra rằng chúng ta giết chết tình yêu, khi chúng ta chìm trong hận thù hoặc oán giận.  Chúng ta là tội nhân, nhưng chúng ta cũng là những người mà Chúa Giêsu đã cầu khẩn trong cuộc khổ nạn: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Và chúng ta sẽ khám phá cách Chúa Cha luôn nghe lời cầu nguyện Con Yêu dấu của Ngài! Không có ai, dù không nhận thức được điều đó, lại không có thể được Thiên Chúa tha thứ!  Tình yêu của Thiên Chúa sẽ cứu tất cả chúng ta, ngay cả Giu-đa: Liệu Giu-đa có thực sự biết việc anh làm là phản bội Chúa Giêsu không? 
“Chỉ một tội chống lại Chúa Thánh Thần sẽ không được tha thứ”.
Ma quỷ không nhận được ơn tha thứ, vì:
Chỉ có ma quỷ mới biết việc chúng làm và chúng tìm mọi cách lôi nhân loại vào cõi chết và không làm cho nhân loại sống. Chỉ có ma quỷ mới hoàn toàn biết Thiên Chúa là ai nhưng cố tình từ chối Người, hắn đã nói với Chúa: “Chúng tôi biết rất rõ Ngài là ai rồi".  Ma quỷ biết rõ Chúa và biết Chúa là ơn tha thứ, nhưng cố tình từ chối Chúa và sự tha thứ của Ngài. Tình yêu Thiên Chúa vượt quá bất cứ điều gì mà nhân loại có thể nhận thức được. Nhưng tại thời điểm cuộc khổ nạn, tình yêu phi thường của Chúa Giêsu Kitô đối mặt nhiều hơn với ma  quỷ. Đối với ma quỷ và chỉ một mình ma quỷ, không nhân được sự tha thứ nào cả trong thế giới này và thế giới khác!
- Ma quỷ luôn từ chối bất kỳ sự tha thứ nào. 
- Ma quỷ hận thù cố ý và truyền kiếp. Hận thù là bản chất của ma quỷ đối với mọi thứ có thể giống, gần hoặc xa với bất kỳ sự tha thứ nào. 
- Ma quỷ chống lại Chúa Thánh Thần và vì thế không được tha thứ bất kỳ ở thế giới nào! 
Vào giờ của Thập giá.
Vào giờ của Thập giá Giêsu mặc khải: Địa ngục tồn tại nhưng đó là nơi chỉ dành riêng cho ma quỷ và những ai biết hoàn toàn những gì họ làm trong tội. Địa ngục không dành cho người nghèo là chúng ta! Về phần mình, con người không bao giờ hoàn toàn biết những gì mình làm khi bị lực lượng ma quỷ này mang đi, đẩy đưa con người nhầm lẫn giữa hạnh phúc và bất hạnh, giữa cái sống và cái chết. Sẽ có ngày chúng ta khám phá ra rằng tình yêu của Thiên Chúa dành cho mọi người mạnh mẽ hơn nhiều so với tất cả những tên quỷ tập hợp lại!  Sẽ có ngày chúng ta khám phá ra rằng Chúa Giêsu đã không chết trong vô vọng! 
Trong lúc chờ đợi ngày đó đến, chúng ta hãy thật lòng đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa đối với mọi tội lỗi chúng ta. Và chúng ta hãy cố gắng tha thứ những lỗi lầm của anh chị em chúng ta...Nên và luôn nhớ rằng nếu có ai đó gieo sự chết và bất hòa, liệu người đó có thể là người “không biết việc của mình làm”chăng?
Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa
=====================
Suy niệm 2
Chết cho người mình yêu
Cha Maximilian Kolbe chết thay cho bạn tù
Cha Maximilian Kolbe sinh ngày 7 tháng 1 năm 1894 tại Zdunska Wola, Ba Lan, được thụ phong linh mục năm 24 tuổi. Cha có ảnh hưởng lớn đối với xã hội và Giáo hội nên vào năm 1941, Cha Kolbe bị Đức quốc xã đưa vào trại tập trung Auschwitz.
Ngày 29 tháng 7 năm 1941, có một tù nhân trong trại bỏ trốn. Theo luật của trại tập trung, khi có một tù nhân trốn trại thì 10 tù nhân khác phải chịu chết thay.
Viên sĩ quan SS đi ngang qua cha Maximilian. Y chỉ tay vào mặt Franciszek Gajowniczek, một hạ sĩ quan 41 tuổi của Quân đội Ba Lan, đang đứng ở cuối hàng và thét lên: “Mày!”
Bấy giờ Franciszek Gajowniczek hoảng hốt kêu lên: “Giê-su Maria! Vợ tôi! Con cái tôi!”
Sau khi viên sĩ quan chọn xong 10 tù nhân chết thay cho người tù vượt trại, bỗng các tù nhân trong hàng bắt đầu xôn xao khi thấy Cha  Maximilian rời khỏi hàng tiến lên phía trước.
Cha Maximilian mặc bộ đồng phục sọc của tù nhân, mang xích bước đi, Ngài đứng bình thản trước mặt các tên sĩ quan. Tên này hỏi:
- “Con lợn Ba Lan, mày muốn gì? ”
Cha Maximilian bình tĩnh trả lời:
- “Tôi muốn chết thay cho anh ta” và chỉ tay về phía Franciszek đang đứng bên cạnh.
Những tên SS sững sờ kinh ngạc! Toàn thể tù nhân trên sân đều kinh ngạc! Không ai ngờ trên đời này lại có người chịu chết thay cho người khác.
Tên sĩ quan hỏi tiếp:
- “Nhà ngươi là ai?”
Cha Maximilian trả lời:
- “Tôi là một linh mục Công giáo Ba Lan.”
Thế rồi tất cả bỗng chìm vào trong yên lặng nặng nề.
Cuối cùng, một điều kỳ lạ xảy ra, tên đại úy SS quay sang Cha Maximilian và hỏi ngài một cách trịnh trọng:
- “Thưa ngài, tại sao ngài muốn chết thay cho tên kia?”
Thật lạ lùng, chỉ ít phút trước hắn đã gọi ngài là “Con lợn Ba Lan,” và bây giờ thì chuyển thành: “Thưa ngài.” Đây là lần duy nhất trong lịch sử của các trại tập trung Phát-xít có một sĩ quan cấp cao từng giết hàng ngàn người lại xưng hô với một tù nhân như vậy.
Cha Maximilian trả lời:
- “Anh ta có vợ và các con. ”
Sau vài giây, tên sĩ quan SS nói: “Được” 
Viên sĩ quan SS cho Franciszek trở lại về hàng và Cha Maximilian đứng thay vào vị trí anh ta.
Mười tù nhân xấu số lặng lẽ bước vào “hầm tử thần” để bị giam đói đến chết.
Vào ngày 14 tháng 8 năm 1941, cửa “hầm tử thần” được mở ra và người ta thấy chỉ còn 4 tù nhân sống sót, trong đó có Cha Kolbe. Tên cai tù chấm dứt cuộc đời Cha Kolbe bằng một mũi thuốc độc. Sau đó thân xác của ngài bị đưa vào lò thiêu cùng với những tù nhân khác.
Thế là nhờ có Cha Kolbe chấp nhận chịu giam đói, chịu phạt, chịu chết thay cho Franciszek nên ông này được cứu sống.
Đã sinh ra làm người, ai trong chúng ta cũng có tội và chiếu theo luật, phải mang lấy án phạt tương xứng với tội lỗi của mình, trong cuộc sống mai sau. Đây là quy luật muôn đời.
Chỉ khi có người nhận tội thay và đền tội thay cho ta, thì ta mới thoát khỏi án phạt đời sau.
Tuy nhiên, không ai trên đời này có đủ tư cách nhận tội thay, đền tội và chết thay cho mỗi người chúng ta; vì thế, Thiên Chúa Cha đã cho Con Một của Ngài đầu thai xuống thế làm người, trở nên Anh cả của loài người, trở nên Vị đại diện chính thức của loài người.
Ai tin vào Chúa Giêsu, phó thác đời mình cho Chúa Giêsu và lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy do Ngài thiết lập, thì người ấy được  tháp nhập vào thân mình Chúa Giêsu và được Ngài nhận tội, đền tội và chết thay cho mình. Mọi tội lỗi của người ấy đều được xoá bỏ, nên không phải bị án chết mà còn được hưởng phúc đời đời với Chúa Giê-su. (GLHTCG 1263)
Đây quả là một giải pháp tuyệt vời: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11, 50).
Không thể chết thay
Nhà anh Xuân và anh Thu nằm cạnh nhau, ngăn cách bởi một hàng rào thép lưới. Xuân là người hung bạo đã nhiều phen gây ra tội ác, đã vào tù ra khám nhiều phen. Vì có mối hiềm khích giữa hai gia đình từ lâu, Xuân xem Thu như kẻ thù truyền kiếp không đội trời chung.
Hôm nọ, con chó nhà Thu chui rào sang nhà anh Xuân, cắn chết mấy chú gà con. Xuân xem đây là cơ hội để trả thù báo oán. Vốn là thợ săn chuyên nghiệp, Xuân mang súng ra, quyết xử con chó người hàng xóm thù nghịch bằng những phát súng săn.
Vì thương chó quá đỗi, Thu thương lượng với Xuân hãy tha chết cho con chó cưng của mình, dù phải trả bằng giá nào Thu cũng chấp nhận. Vậy mà Xuân vẫn khăng khăng không chịu, cuối cùng Xuân hằn học nhìn Thu và gằn lên từng tiến: “Nếu mày chịu để tao bắn chết thay cho chó cưng của mày thì được!”
Trước thách đố này, Thu cảm thấy sững sờ và choáng váng!
Nếu bạn là Thu, bạn có sẵn sàng nộp mạng chết thay cho con thú cưng của bạn không? Bạn có thể nói với người hàng xóm hung dữ kia: “Hãy tha mạng cho con chó yêu quý của tôi. Tôi chấp nhận chết thay cho nó. Anh cứ giết tôi đi, miễn là cho chó của tôi được sống”… hay không?
Không đời nào! Không ông chủ nào trên đời chấp nhận hy sinh mạng sống mình chết thay cho chó, vì phẩm giá của chó quá thấp kém so với phẩm giá con người.
Vậy mà Chúa Giê-su là Thiên Chúa ngôi hai, là Chúa tể trời đất, là Đấng sáng tạo nên vũ trụ càn khôn, muôn vật muôn loài; Phẩm giá của Ngài so với phẩm giá của con người hèn mọn cách xa vô tận; Ngài là Vua của hoàn vũ quyền phép vô song, cao sang vô lượng; Còn chúng ta là những thụ tạo tầm thường nhỏ nhoi, chỉ đáng là những con vi trùng khốn hèn trước tôn nhan Ngài… Thế mà Ngài lại chấp nhận chịu khổ nạn đau thương tủi nhục và chịu chết thay cho chúng ta để ta được sống muôn đời! Làm sao hiểu được một tình thương cao vời như thế?
Vậy mà ta đã làm gì để đáp lại tình Chúa chưa?
 
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
===================
Suy niệm 3
NGHỊCH LÝ CỦA THÁNH GIÁ
(Ga 18, l-19.42)
Buổi chiều hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi chiều hôm nay là “giờ” của Thiên Chúa Cha đã định, và cũng là “giờ” của Đức Giêsu hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại; “giờ” của người Tôi Trung mà tiên tri Isaia đã loan báo. “Giờ” đó được hoàn tất trên Thánh Giá. Vì thế, phụng vụ chiều hôm nay đều quy chiếu về Thánh Giá Đức Kitô như một sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối.
Nghịch lý của Thánh Giá
Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã nói: Đức Giêsu Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8); và Ngài đã chết theo như lời Thánh Kinh (x. 1Cr 15,3).
Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá đã là nguyên nhân để nhiều người được cứu độ, nhưng cũng không thiếu những kẻ cứng lòng, cố chấp và trai lỳ trong ích kỷ, kiêu ngạo. Những người như thế, họ coi đó như là hình phạt mà Đức Giêsu là người đáng phải chịu do tội mình gây nên.
Thật vậy, khi thập giá được dựng lên, và khi Đức Giêsu chịu treo trên đó, đã không biết bao người tin theo và suy tôn. Tuy nhiên, cũng không thiếu những lời chê bai dè bửu và khinh thường. Họ coi thập giá như là thứ đồ tể đáng sợ để trừng phạt những tử tội oái oăm, khét tiếng và nguy hiểm... Suy nghĩ như thế, thì cái chết của Đức Giêsu không có công trạng gì, mà chỉ như là một hình phạt đích đáng được dành cho một kẻ đã từng bị kết án vì tội “sách động dân chúng; tìm cách lật đổ Đế quốc và nói lời phạm thượng”. Và, những người theo Đức Giêsu phải chăng họ là bọn người cuồng tín khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một kẻ bị treo trên cây gỗ như một tử tội?
Thật vậy, thập giá của Đức Giêsu hôm nay được tôn vinh, đã làm không ít người cảm thấy ngỡ ngàng, bởi vì xét theo người đời, thì đây chính là sự ô nhục, hận thù, đáng ghét... là biểu tượng của sự chết tróc và thập giá vẫn chỉ là dụng cụ ghê rợn được dùng để sử tử tội nhân mà thôi.
Nhưng đối với Thiên Chúa, thì đây chính là sự khôn ngoan khôn dò thấu của Người. Con Thiên Chúa chết trên thập giá là một trong những đường lối khôn ngoan sâu thẳm mà không một ai dò thấu (x. Rm 11,33). Bởi vì Thiên Chúa đã dùng thập giá như một sự nghịch lý để cứu độ con người.
Thực ra thập giá luôn mang tính nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở nơi mà người đời coi là điên rồ.
Nhưng với những người tin, hẳn sự cảm nghiệm, suy nghĩ và thái độ hoàn toàn ngược lại. Những người đó sẽ coi thập giá trở thành Thánh Giá và Thánh Giá lúc này trở thành phương dược, để qua đó Đức Giêsu chuộc tội thay con người và cứu độ nhân loại.
Nếu xưa kia trong vườn Địa Đàng, Ađam đã ngã gục trước Cây Trái Cấm, và gieo rắc tội lỗi cho nhân loại, thì giờ đây, trên cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì mà Ađam đã đánh mất và để lại hậu quả cho nhân loại.
Như vậy, từ Cây Trái Cấm, sự chết đã tiêu diệt thế gian, và Trái Cấm là rào cản lớn đến độ con người không thể vượt qua, thì giờ đây, từ cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì đã mất do Nguyên Tổ gây nên và mặc cho nó thành cây Sự Sống, quả Phúc Trường Sinh.
Chính Đức Giêsu đã khẳng định rõ điều này khi nói: Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12, 32).  Vì thế, không lạ gì khi thánh Phaolô đã khẳng khái tuyên xưng niềm tin và ơn cứu chuộc của mình nơi Thánh Giá, ngài nói: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa [...] Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. Trong khi người Dothái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hylạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan,  thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Dothái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. (nhưng) cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (x. 1Cr 1,18-25).
Vì thế, "Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" (Cl 1,20).
Đón nhận Thánh Giá như nguồn ơn cứu rỗi
Cuộc đời của người kitô hữu, tức là cuộc đời của những người tin và theo Đức Giêsu, hẳn mỗi người luôn nghe thấy lời mời gọi của Ngài: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì? " (Mc 8,34-36); và: "Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy" (Mt 10,38).
Lời mời gọi đó đã được gióng lên ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội cũng như suốt cuộc đời của mỗi người chúng ta. Như vậy, Thánh Giá trở nên cứu cánh và việc vác Thánh Giá trở thành điều kiện cần của chúng ta trên hành trình dõi bước theo Đức Giêsu.
Thánh Giá mà mỗi chúng ta phải vác ở đây chính là bổn phận phải chu toàn; là từ bỏ những thứ không cần thiết trên hành trình tin Chúa; là từ bỏ ý riêng... và phục vụ trong yêu thương.
Làm được như thế, ấy là chúng ta sáp nhập cuộc đời của mình vào cuộc đời của Đức Giêsu. Đặt bước chân của ta vào dấu chân của Chúa, để sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng.
Như vậy, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Thánh Phaolô đã diễn tả tâm tình ấy khi tuyên xưng: Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thập giá [...] (Và) tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,19-20).
Mặc lấy tâm tình của Đức Giêsu, người kitô hữu chúng ta sẽ từ bỏ con đường tội lỗi, để được hiệp thông cách trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, và như một định luật đối với những người tin và theo Đức Giêsu là: qua đau khổ thì mới được vào vinh quang.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng chịu treo trên Thánh Giá, xin thương xót và cứu chuộc chúng con. Amen.
 
Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.
======================
Đêm Vọng Phục Sinh
Suy niệm 1
Ánh sáng Chúa Kito

------------------
Lửa thắp sáng!
Mở đầu Thánh Lễ đêm nay, ngọn nến Phục sinh thu hút mọi ánh nhìn, để qua đó chúng ta có thể nói niềm tin của chúng ta vào Chúa Kitô Phục sinh. Ánh sáng của Sự sống thần linh đã đi vào chúng ta, biến đổi chúng ta. Đó là một ánh sáng đến với toàn bộ con người chúng ta, với trí thông minh và con tim chúng ta, thậm chí còn tốt hơn cả sự rạng rỡ của một người đang sống. Ánh sáng đến tận sâu thẳm tâm hồn chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: “Thầy đến thắp sáng ngọn lửa trên trái đất. Thầy ước mong ngọn lửa đó cháy lên”! 
Đêm nay, ngọn lửa này đã thắp sáng! Ngọn lửa tỏa sáng và sưởi ấm chúng ta từ bên trong, trong đêm Phục sinh này. Chúng ta có ý thức rằng đó là một ngọn lửa đích thực đã đi qua cuộc đời chúng ta không? Chúng ta hãy nhìn về phía Chúa Kitô như Ngài đang hướng về phía chúng ta. Kể từ đêm Phục sinh, không chỉ các nhà thờ hướng về mặt trời mọc, mà trái tim chúng ta, các cộng đoàn giáo xứ giáo họ mở rộng bàn tay để chào đón ánh sáng của Chúa trỗi dậy và đến với chúng ta vào sáng sớm ngày Chúa Phục sinh. Đêm nay, Chúa Kitô ở đây mặc dù chúng ta vẫn còn một chút gì đó do dự. Chúng ta hãy tạ ơn Ngài vì Ngài đã chiến thắng bóng tối đêm đen của chúng ta. Ngài sẽ giúp chúng ta đánh bại một cách dứt khoát, cụ thể là  bóng tối của sự chết từ nay đã bị đánh bại. 
Phép Rửa, đắm chìm trong sự sống
Chúng ta hãy nhớ lại bí tích Rửa Tội mà chúng ta đã lãnh nhận và liên hệ tới những ai lãnh nhận bí tích đó đêm nay. Thời kỳ Giáo Hội sơ khai, Bí tích Rửa tội được gọi là "bí tích chiếu sáng  ". Nước Rửa tội cũng nhắc nhở chúng ta rằng chính Thiên Chúa đắm mình trong thân phận con người chúng ta. Nước đồng thời là biểu tượng của cái chết, của tất cả những gì có thể nhấn chìm chúng ta. Tuy nhiên, nước cũng là biểu tượng của sự sống, nhờ ánh sáng của mặt trời xuyên thấu.  Nước tinh tuyền này mà tiên tri Ezekiel loan báo, có khả năng biến đổi con tim chúng ta.Trong các bài đọc Phụng vụ Lời Chúa mà chúng ta đã nghe, chúng ta hãy nhớ lại bài đọc Sáng Thế, Thiên Chúa liên kết nước và ánh sáng trong cử chỉ Sáng tạo như thế nào.  Chúng ta đã thấy cách Ngài cứu dân vượt qua biển đỏ làm sao. Dân Ngài được hướng dẫn trong sa mạc bằng cột mây và cột lửa. Sau đó, tiên tri Isaia  tuyên bố với chúng ta về sự ra đời của Giê-ru-sa-lem mới rạng rỡ, sẽ không bao giờ bị bão nhấn chìm. Nhờ Phép Rửa, chúng ta trở thành những viên đá sống của Gierusalem mới, đó là Giáo Hội. 
Đừng tìm kiếm người đang sống giữa những người chết! 
Từ ngữ sâu thẳm của đức tin chúng ta là Phục sinh. Đôi khi chúng ta ngạc nhiên vì nhiều kito hữu cảm thấy khó tin vào sự Phục sinh. Các môn đệ Chúa Giêsu cũng gặp phải khó khăn như thế! Nhưng Tin mừng cho chúng ta biết rằng vào buổi sáng Phục sinh, những người phụ nữ đến ngôi mộ và không thấy xác Chúa Giêsu ở đó. Họ sợ hãi, “cúi gằm xuống đất”... Họ chạy về báo tin cho các môn đệ. Nghe tin đó, các môn đệ cho rằng đó là chuyện của đàn bà... Thánh Luca nói với chúng ta rằng Phêro cũng đến xem, và ông cũng ngạc nhiên. 
Để tin, chúng ta cần ân sủng từ trên cao.  Đó là lời của Thiên thần nói với mấy người phụ nữ để họ thay đổi cái nhìn: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa những người chết”? Chúng ta cũng đừng tìm kiếm Chúa Kitô nơi những gì đã chết trong chúng ta hoặc trên thế giới nữa! Chúng ta hãy tìm kiếm trong cuộc sống của cộng đồng Kitô hữu chúng ta, trong tiếng gọi bên sâu thẳm mà Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trỗi dậy. Khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, nếu cá nhân cũng như tập thể chúng ta cùng nhau trở nên những người sống trong Chúa Kitô, thì lúc đó chúng ta gặp Ngài trong niềm vui của đức tin. Chúng ta trải nghiệm việc loại bỏ dần các thế lực đen tối thường che giấu bộ mặt thật của Chúa Kitô phục sinh trong chúng ta. Hãy để Ngài nối kết với chúng ta... Hãy để con người thật của chúng ta phục sinh trong nước rửa tội. Chúng ta hiểu sự nhiệt huyết của Thánh Phaolo khi viết cho tín hữu Roma: “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Chúa Kito...Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Kito, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người”
Tìm Chúa trong những người đang sống
Chúa Giêsu nói: “Thầy đi rồi Thầy trở lại với anh em”. Thật vậy, đêm nay Chúa trở lại với chúng ta. Đêm nay, đêm Phục sinh này, chúng ta hãy vui vẻ nói với nhau niềm tin tuyệt đẹp này: "Chúa Kitô đã sống lại” !  Chúa Kitô sống lại, người con đầu lòng của nhân loại chúng ta. Vào một ngày nào đó, tất cả chúng ta cùng nhau, sẽ thấy Ngài nhãn tiền, dưới ánh sáng của Chúa Cha và tình yêu của Chúa Thánh Thần. Nếu mắt chúng ta quen với ánh sáng thực sự, chúng ta sẽ có thể tiếp cận với những người vẫn đang đi trong bóng tối...để một ngày nào đó chúng ta có thể nói với họ: "Chúa Kitô đã sống lại". Alleluia!  
Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa
=====================
Suy niệm 2
CHÚA PHỤC SINH LÀ TIN MỪNG CHO NHÂN LOẠI
(Lc 24,1-12)
“Nếu Đức Kitô đã không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cor 15,14); hay: “Nếu chúng ta đặt hi vọng vào Đức Kitô chỉ vì những sự đời này, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hại nhất trong thiên hạ” (1Cor 15,19),
Thế nên, không ai dại dột mà tin và gắn bó cả cuộc đời cũng như mọi chiều kích của cuộc sống vào một con người mà kết thúc cuộc đời bằng cái chết! Thân xác bị chôn vùi trong huyệt mộ là dấu chấm hết cho chính con người đó cũng như những ai đã từng đặt lý tưởng cuộc đời mình vào họ.
Nhưng, niềm tin vào Đức Giêsu đã đem lại cho chúng ta niềm hy vọng, bởi vì Đấng mà chúng ta tin tưởng, gắn bó và phó thác chính là Đấng đã từng chết thật, nhưng cũng đã sống lại thật sau ba ngày nằm trong mộ phần.
Như vậy, chúng ta thật hãnh diện về Đấng Cứu Chuộc có tên là Giêsu, vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài mà chúng ta được sống và sống dồi dào, bởi lẽ, nếu chúng ta cùng sống và chết với Ngài thì cũng sẽ được cùng Ngài sống lại trong vinh quang.
Hãy trở về Galilê để sống niềm vui sứ vụ
Niềm tin vào Đấng Phục Sinh được Tin Mừng theo thánh Luca trình bày bằng sự kiện các phụ nữ, những người yêu mến Đức Giêsu đi ra mộ lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, tức là kế sau ngày Sabát, để thi hành công việc chăm sóc, sức thêm thuốc thơm nơi xác Đức Giêsu, đây là công việc lẽ ra phải làm chu đáo hôm an táng Ngài. Tuy nhiên vì là áp lễ Vượt Qua của người Dothái, nên những việc làm tỉ mỉ không thể thực hiện được, vì nếu làm như thế, thời gian sẽ chuyển sang ngày Sabát, mà ngày Sabát thì lại là luật cấm làm việc xác...
Khi đến nơi, các phụ nữ thật ngỡ ngàng, vì cửa mộ đã mở tung và trong mộ không còn thi thể Đức Giêsu!!!
Thấu hiểu nỗi sợ hãi và hoang mang của các phụ nữ, nên thiên thần đã hiện ra chấn an các bà và nói: "Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã chỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại" (Lc 24 5-7).
Sau khi được các thiên thần nhắc cho các bà nhớ lại lời Đức Giêsu đã tiên báo, các bà rất vui mừng và thêm xác tín vào những lời Đức Giêsu đã nói với các bà trước đó, vì thế, họ hân hoan trở về và báo tin mừng này cho các môn đệ. Tin Mừng thánh Mátthêu thì nói rõ hơn và còn tiên báo cho biết: chính Đức Giêsu – Đấng Phục Sinh sẽ đến Galilê và sẽ gặp các môn đệ tại đó (x. Mt 28, 7).
Nhắc lại cho các bà những điều Đức Giêsu đã nói khi còn ở Galilê là gợi lại cho các bà về niềm xác tín nền tảng, bởi vì chính tại Galilê, những phụ nữ và các môn đệ đã khởi đầu hành trình bước theo Thầy Giêsu trong niền tin và hy vọng. Nay trở về Galilê là để cho người môn đệ một lần nữa xác định lại căn tính của mình, thêm vững tin, can đảm, hầu trung thành với sứ vụ tông đồ giữa trăm triều thử thách chông gai.
Mặt khác, khi chứng kiến cảnh hãi hùng ghê rợn của Thầy mình phải chịu qua cuộc thương khó, nhất là qua cái chết của Ngài, các môn đệ kể như bị hoang mang lo sợ đến tột cùng! Chẳng thế mà từ khi Thầy của các ông bị bắt, đánh đập và giết chết cách tàn bạo thê lương trên thập giá, các ông đã không dám ra ngoài, nhưng luôn trong nhà và đóng kín cửa. Vì thế, khi nhắc các bà nhớ lại những điều chính Ngài đã tiên báo từ hồi còn ở Galilê, là để cho các bà có bằng chứng nhằm loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các môn đệ một cách xác tín.
Nếu không nhắc lại biến cố Galilê, thì hẳn các môn đệ không thể tin vào chuyện vĩ đại có tầm ảnh hưởng lớn đến hết mọi người mà lại qua miệng các phụ nữ!!!
Hơn nữa, khi nhắc lại địa danh Galilê, và nói với họ nhớ lại những gì Đức Giêsu đã tiên báo trước đó, ấy là Ngài muốn cho họ nhớ lại mối tình đầu tiên giữa Ngài với họ, nơi mà mọi sự được bắt đầu, nơi mà Ngài đã cất tiếng gọi và nơi mà họ đã từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài...(x. Mt 4,18-22).
Ngày Rửa Tội là Galilê của chúng ta
Với chúng ta, ai cũng có một Galilê nội tâm, nơi ấy, chúng ta được đánh dấu bằng việc Chúa gọi và chọn mỗi người qua Bí tích Rửa Tội, để trở nên con cái của Chúa, con cái Sự Sáng và nên chứng nhân cho Ngài.
Khi trở nên con cái Chúa trong ơn gọi Kitô hữu, ấy là chúng ta mặc lấy Đức Kitô và được mời gọi mang trong mình những tâm tư của Ngài để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, ngõ hầu trở nên chứng nhân về Đức Giêsu, Đấng đã chết và đã phục sinh vinh hiển.
Tuy nhiên, tình nghĩa giữa ta và Chúa đã bị rạn nứt với năm tháng do yếu đuối, tham lam, ích kỷ, kiêu ngạo... nên nhiều khi chúng ta đã dửng dưng với ơn gọi và sứ vụ của mình.
Khi được thiên thần mời gọi các phụ nữ nhớ lại những lời Đức Giêsu đã báo trước cũng như hẹn gặp các môn đệ ở Galilê, đây cũng chính là lời mời gọi mỗi người trở về và nhớ lại biến cố Galilê nội tâm của mình.
Khi được mời gọi trở về Galilê, hẳn đây là lời nhắc nhớ chúng ta nhớ lại niềm tin tinh tuyền thủa ban đầu.
Nhớ lại những gì đã nói khi còn ở Galilê; ấy là nhóm lên ngọn lửa tình yêu mãnh liệt thủa ban sơ ấy; và cũng là nhớ lại những ân tình, mà Thiên Chúa đã ban trên cuộc đời chúng ta.
Khi trở về và nhớ lại như thế, sứ điệp quan trọng được loan đi, đó là: cần đọc lại lịch sử cuộc đời mình, để nhận ra tình thương của Thiên Chúa, nhận ra bàn tay can thiệp uy quyền của Ngài, và nhất là nhớ lại những điều đã báo trước, để thêm một lần nữa nhìn cuộc đời dưới quy luật: qua đau khổ đến vinh quang.
Khi trở lại và nhớ về biến cố Galilê nội tâm, cũng là dịp để ta xác tín thêm và khởi đầu một hành trình mới trong niềm tin và hy vọng, để can đảm loan báo Đức Giêsu đã chết đúng như tiên báo, đã sống lại như những gì đã nói trước...
Mong sao, đêm nay, mỗi người chúng ta hãy làm một cuộc hồi tưởng để trở về với cõi lòng của mình, ngõ hầu thấy được Galilê nội tâm riêng của mỗi người; đồng thời hãy nhớ về nó để chúng ta đi trên con đường đã được định hướng.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống lại từ cõi chết. Đây là tin mừng không chỉ cho các phụ nữ, các môn đệ, nhưng nó còn là niềm hy vọng và niềm tin của chúng con hôm nay và mãi mãi. Xin cho mỗi người chúng con ngay trong giây phút này, hãy cất cao lên lời: “Halêluiya” và hãy loan Tin Mừng Phục Sinh đến mọi nơi. Amen.
Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.
 
Thông tin khác:
|||||
RA ĐI RAO TRUYỀN TIN MỪNG - Bài hát chủ đề ĐHGT giáo tỉnh Hà Nội tại giáo phận Hưng Hoá 2020 -
Liên kết website
Tiêu điểm
Website www.giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log