Thứ hai, 16/09/2019

Đồng Hành Khôi Bình, Tháng 05.2019

Cập nhật lúc 07:34 03/05/2019
KHÔI BÌNH HƯNG HOÁ
 
ĐỒNG HÀNH

 
Tháng 05. 2019
Nội bộ sinh hoạt hàng tháng
 
Lời ngỏ
Anh Chị Em Khôi Bình thân mến,
Cùng với Hội Thánh trên toàn thế giới, chúng ta ngắm nhìn Cây Nến Phục Sinh và vui mừng hát Hallêluia. Xin Chúa Thánh Thần làm cho lòng chúng ta bừng cháy lên để mạnh dạn ra đi làm chứng: Chúng tôi đã nhận ra Chúa đồng hành trong cuộc sống hôm nay.
Chúa Giêsu Phục sinh hiện diện với chúng ta hôm nay ở đâu? Hiện diện như thế nào? Hiện diện để làm gì?
Ngài ở trong Hội Thánh của Ngài đang họp mừng lễ Vượt Qua của Chiên Thiên Chúa, như đã làm từ 2.000 năm nay.
Ngài hành động nơi Bí tích Thánh Tẩy: nhiều anh chị em dự tòng trên thế giới được lãnh nhận trong Mùa Phục sinh này, như chúng ta đã lãnh nhận, để được làm con Thiên Chúa.
Từ đó Chúa Giêsu Kitô không ngừng dạy dỗ chúng ta qua Kinh Thánh, giáo huấn các tông đồ, qua các chủ chăn; nuôi dưỡng chúng ta bằng Thánh Thể, mỗi ngày trong các Thánh lễ; ban Thánh Thần, là bóng quyền năng che chở, dẫn dắt chúng ta; và Thánh Mẫu, là Mẹ Maria hằng có mặt trong mỗi gia đình; hiện diện nơi Thánh Giá, ở khắp nơi, làm chứng tình yêu Chúa Cha dành cho loài người (x. Ga 3,16; 15,13).
Song, điều quan trọng là chúng ta có nhận ra Chúa Phục Sinh hiện diện ở đó hay chưa? Để chúng ta được hiệp thông với Ngài? Để cho Ngài hành động qua mỗi người chúng ta chưa?
Anh Chị Em rất thân mến,
Là những người đã chọn đặt Chúa Giêsu ở trung tâm cuộc sống và được sai đi trong Sứ vụ làm chứng Tin Mừng Chúa Phục sinh, chúng ta hãy giúp nhau sống và chia sẻ niềm vui Phục sinh trong các Gia đình Khôi Bình Giáo xứ của mình. Chắc chắn Chúa Thánh Thần sẽ luôn hướng dẫn và thêm sức cho chúng ta.
Đừng sợ! Bình an cho anh em!
Niềm Vui của anh em, không ai có thể lấy mất!
Đó là lời chúc mừng và lời cầu nguyện của Ban Quản Gia Giáo phận cho anh chị em trong Mùa Phục sinh này.
Trung kiên với Khôi Bình!
Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn
LMĐHKB. Hưng Hóa
 
I. CHIA SẺ LỜI CHÚA: CHỦ NHẬT II PHỤC SINH Cv 5, 27 - 32. 40 - 41; Kh 5,11-14; Ga 21, 1-19
Có một đôi vợ chồng, tuy hai người lấy nhau đã lâu, nhưng dường như họ không có hạnh phúc, bất cứ chuyện gì cũng có thể là nguyên do để hai người cãi nhau. Nhân dịp các con tặng cho một số tiền, hai người đi du lịch sang Giêrusalem. Vì tuổi già sức yếu nên chuyến đi cũng không gì hứng thú lắm, và không may người vợ từ trần sau một cơn đau tim.
Khi lo lắng thủ tục mai táng, người chồng được nhân viên nhà quàn cho biết là nếu chôn cất ở đây thì chỉ tốn 2.000 đô-la, nhưng nếu đem về Việt Nam thì phải mất 20.000 đô-la. Ông chồng suy nghĩ đôi chút và nói ông muốn đưa xác vợ về Việt Nam. Nhân viên nhà quàn ngạc nhiên và hỏi tại sao ông bỏ lỡ cơ hội để vợ được chôn ở Đất Thánh mà chịu mất tiền để đưa xác về Việt Nam, ông trả lời: “Tôi nghe nói ở Giêrusalem này có người chết ba ngày rồi sống lại, và tôi không muốn cơ hội đó.
Đây là một câu chuyện vui, nhưng nó cho thấy một sự thật là nếu không có tình yêu thì đời sống con người thật cay đắng và ê chề. Nhiều cặp vợ chồng ngày nay, tuy có tất cả các phương tiện vật chất nhưng họ không có hạnh phúc, vì thiếu tình yêu.
Tình yêu không những cần thiết cho đời sống con người mà tình yêu còn cần cho sự phát triển của Kitô giáo trong mọi thời đại, nhất là lúc sơ khai. Đây là điểm được thấy trong bài Tin Mừng hôm nay: Chúa Giêsu cần đến sự tiếp tay của mọi người chúng ta trong công việc xây dựng Giáo hội.
Trước hết, chúng ta cần để ý rằng trong suốt thời gian Đức Giêsu còn sống ở thế gian và đi rao giảng, chưa bao giờ Người hỏi các môn đệ hay bất cứ ai rằng, “Con có yêu mến ta không?” Nhưng trong khung cảnh Phục sinh - sau khi chịu khổ hình thập giá, chịu chết, sống lại và sắp sửa về trời - Đức Giêsu lại đặt vấn đề tình cảm của các môn đệ đối với Người, mà đại diện là ông Phêrô.
Trước đây, khi Đức Giêsu còn sống, Người hỏi các môn đệ về căn tính của Người với câu hỏi, “Anh em nói Thầy là ai?”, và ông Phêrô đã lên tiếng trả lời, “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Tuy tuyên xưng như thế nhưng lòng tin của ông Phêrô chưa có sức mạnh, vì thế khi Đức Giêsu bị bắt, ông đã nhát sợ, từ chối sự quen biết với Thầy Giêsu, không phải một lần, nhưng đến ba lần. Bây giờ, sau khi đã phục sinh vinh hiển, lẽ ra Chúa Giêsu phải hỏi lại ông Phêrô rằng “Con có tin Thầy không? Con có tin Thầy là Đấng Mêsia không? Con có tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống không?” để có thể tin tưởng giao trách nhiệm chăn dắt “đàn chiên” cho ông, nhưng Chúa Giêsu lại hỏi ông đến ba lần, “Con có yêu mến Thầy không?”
Câu hỏi của Chúa Giêsu cho thấy tình yêu quan trọng hơn lòng tin.
Người ta có thể tin Chúa vì khiếp sợ sự uy nghi của Chúa; nếu giả như Chúa hiện ra ở đây, nhưng lòng tin đó chưa chắc đem cho chúng ta sức mạnh để có thể sống chết cho Chúa.
Trên thực tế, người ta chỉ có thể sống chết cho nhau nếu họ yêu mến nhau. “Yêu nhau cho đến chết”, hay “Chết vì yêu” đó là điều được Chúa Giêsu minh chứng qua khổ hình thập giá, và Người cũng hy vọng rằng tình yêu ấy sẽ được đáp trả, do đó, Người hỏi ông Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không?”
Các Tin Mừng nguyên thủy được viết bằng tiếng Hy Lạp, và theo Đức nguyên Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, chữ “yêu mến” mà Chúa Giêsu dùng khi hỏi lần đầu là “agapáo”, nó có nghĩa một tình yêu không giới hạn, trọn vẹn, và vô điều kiện. Nhưng ông Phêrô, khi nhìn đống than hồng nướng bánh và cá, có lẽ ông đã nhớ lại cách đó trên dưới một tuần, cũng có than hồng để sưởi ấm vào buổi tối khi Chúa Giêsu bị bắt, và ông đã nhát sợ, từ chối không biết thầy mình khi bị người ta gạn hỏi; bởi thế, ông cảm thấy xấu hổ khi đứng trước tình yêu vĩ đại của thầy mình, và ông thành thật trả lời, “Thưa Thầy, Thầy biết con mến Thầy.” Chữ “mến” ông Phêrô dùng là chữ “filéo tiếng Hy Lạp, nó có nghĩa tình bằng hữu - tuy tình cảm ấy thắm thiết nhưng không trọn vẹn, không quyết liệt như chữ “agapáo” mà Chúa Giêsu đã dùng. Và rồi Chúa Giêsu hỏi lại lần thứ hai, cũng với chữ “agapáo” - một tình yêu quyết liệt, trọn vẹn, không giới hạn - nhưng ông Phêrô vẫn xấu hổ nhìn nhận tình yêu bất toàn của mình, ông vẫn dùng chữ “filéo”, “Thầy biết con mến Thầy!.” Điều ngạc nhiên ở đây là sau đó, lần thứ ba, Chúa Giêsu không dùng chữ “agapáo” nữa mà Người đã dùng chữ của ông Phêrô, “filéo”, để hỏi ông, “Con có mến Thầy không?” Tuy buồn vì Chúa Giêsu đã hỏi đến ba lần nhưng ông Phêrô lại bừng lên hy vọng khi thấy Chúa Giêsu sẵn sàng hạ thấp mức độ tình yêu của Người để chấp nhận tình yêu bất toàn của ông và giao cho ông một vinh dự lớn lao là chăn dắt “đàn chiên” của Chúa.
Qua cuộc đối thoại này chúng ta thấy, khi Chúa Giêsu không còn hiện diện ở thế gian, Người cần đến sự tiếp tay của chúng ta, những người theo Chúa Kitô. Sự tiếp tay của các Tông đồ và của chúng ta trong việc xây dựng Giáo hội sẽ không tùy thuộc vào khả năng của con người, nhưng tùy thuộc vào lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa Giêsu, dù rằng tình yêu ấy không được trọn vẹn, không được viễn mãn như tình yêu của Chúa dành cho chúng ta. Khi đóng góp cho sự phát triển của Giáo hội, nhiều khi chúng ta nghĩ đó là những khả năng đặc biệt của một số người nào đó, như các giáo sĩ hay nam nữ tu sỹ. Nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay, hình ảnh các Tông đồ đánh cá cả một đêm dài mà không bắt được một con cá nào cho thấy khả năng con người sẽ như thế nào khi không có Chúa trợ giúp!. Chúng ta đừng nghĩ đến khả năng, hay không có khả năng trong việc xây dựng Giáo hội, mà hãy tin tưởng rằng, với lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, một hành động nhỏ bé của chúng ta, dù là tài chính hay nhân lực, vật lực, sẽ đem lại một kết quả không ngờ.
Gia đình là một Giáo hội tại gia mà trên hết và trước hết chúng ta phải xây dựng. Để gia đình được hạnh phúc, chúng ta hãy áp dụng bài học thực tế được thấy trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Phêrô. Đó là chúng ta hãy trân quý tình cảm của người khác dành cho chúng ta, dù tình cảm ấy mong manh, hay sơ sài. Nhiều vợ chồng không được hạnh phúc vì họ kỳ vọng nơi nhau một tình yêu tuyệt hảo không thể có. Nhiều cha mẹ thấy buồn tủi khi không được con cái yêu quý như họ mong muốn để rồi có những lời cay đắng chỉ làm lạnh nhạt thêm tình gia đình.
Chúng ta cũng đừng mong đợi nơi người khác những khả năng mà họ không thể có, nhất là những người trên chúng ta như cha mẹ, thầy cô, anh chị và các vị lãnh đạo tinh thần; nhưng hãy thông cảm, chấp nhận sự hạn hẹp của con người, bởi vì chính chúng ta cũng có những khuyết điểm và không thể có được những khả năng mà người khác mong muốn.
Khi chúng ta thay đổi cái nhìn, thay đổi lối đối xử với người khác, đó là TINH THẦN PHỤC SINH. Chúa Giêsu đã thay đổi tình trạng tuyệt vọng của sự chết thành sự sống mới tràn trề hy vọng. Chúa Giêsu đã đổi mới một thân xác đầy thương tích ghê sợ, nằm chết bất động, thành một thân thể kỳ diệu, sống động. Chúa đã mở ra một cánh cửa mới cho một hoàn cảnh tưởng như không có lối thoát.
Tin tưởng rằng Chúa Giêsu Phục Sinh đang sống giữa chúng ta để xây dựng Giáo hội, để đưa mọi người về với Thiên Chúa, chúng ta cũng phải thay đổi cái nhìn vào sự việc và con người để tiếp tay trong công việc này. Điều cần thiết là chúng ta tập yêu mến Chúa Giêsu bằng những hành động cụ thể cho tha nhân.
Đó là sức sống phục sinh, một sức mạnh phát sinh từ sự đổi mới của Chúa Giêsu mà Người sẵn sàng ban phát cho tất cả những ai yêu mến Người.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Hãy tưởng tượng anh chị đang ở trong phòng với các Tông đồ khi Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra. Hãy nhìn những phản ứng của họ, và nhìn Chúa Giêsu khi Ngài ban phép lành cho anh chị. Anh chị muốn thưa với Ngài điều gì?
2. Chúng ta giống và khác ông Tôma ở những điểm gì?
3. Điều gì, hoặc ai, đã giúp anh chị tin Chúa Giêsu?
II. HỌC TẬP LINH ĐẠO KHÔI BÌNH
KITÔ GIÁO TÍCH CỰC CÓ THỂ TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT
Đức tin không phải chỉ được thể hiện trong những nơi cầu nguyện mà nó còn phải là một phần trong cuộc sống hằng ngày.” Câu nói của Cha Adolph Kolping minh hoạ rất rõ cách mà ngài muốn chúng ta hiểu và sống theo Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Câu nói đó còn chứa đựng lời phê bình gián tiếp về thần học và về cách mà Giáo hội Công giáo rao giảng Tin Mừng vào thời đó.
Với vai trò là cha tuyên úy, Cha Adolph Kolping đã đối mặt với nhiều nỗi đau của người dân trong xã hội đến nỗi mà ngài phải đưa ra kết luận rằng: Giáo hội quá bị động. Ngài quyết định dành sự quan tâm cho những người làm thuê, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của họ và nhờ vậy hành động của ngài đã trở thành tấm gương cho Giáo hội và xã hội. Cộng đoàn Những Người Thợ Thầy đã được sáng lập bởi nhà giáo Breuer, là nơi thích hợp để ông ta đấu tranh cho sự nghèo khổ của những người làm thuê. Vào ngày 06/5/1849, nghĩa là 169 năm trước, Cha sở Adolph Kolping đã sáng lập Cộng đoàn Những Người Thợ Thầy đầu tiên của Công giáo tại Cologne. Cách nhà thờ Minorite chỉ một vài mét, ngài đã gặp được bảy người làm thuê ngay trong buổi chiều hôm đó để đưa ra những câu trả lời mang tính Kitô giáo theo cách đặc biệt của ngài về những vấn đề xã hội trong thế kỷ 19. Trong văn phòng của ngài, với tư cách là Đức ông của Cộng đoàn Những Người Thợ Thầy ở Elberfeld, Cha Adolph Kolping đã thu thập được những kinh nghiệm ngài cần để đảm trách vị trí Đức ông tại Cologne. Tất cả chúng ta đều biết rằng ngài đã học về kinh doanh giày và gặt hái được nhiều kinh nghiệm làm việc thực tế trong những buổi hội thảo khác nhau trước khi ngài chuyển đi học ở Bonn và Munich. Cha Adolph Kolping có kỹ năng quan sát xuất sắc và ngài là một nhà hùng biện tuyệt vời. Ngài có được những kinh nghiệm thực tiễn đầu tiên khi còn là giáo viên trưởng bộ môn về tôn giáo ở trường cấp 1 và cấp 2.
Những hậu quả nặng nề của nền công nghiệp hóa thế kỷ 19, cộng với sự nghèo đói và mất phương hướng của những lao động trẻ và công nhân, đã để lại ấn tượng khó phai trong vị linh mục trẻ tuổi này. Khả năng tuyệt vời của ngài, khi nói đến tâm lý của công nhân và thợ thủ công cũng như về những vấn đề xã hội của họ, đã làm cho ngài trở thành sức hút đối với giới trẻ và nhờ đó họ rất muốn nói chuyện với ngài.
Thiên Chúa đặt bạn nơi mà Ngài cần bạn”, câu nói này của Cha Adolph Kolping cũng được áp dụng cho chính ngài. Lúc Cha tuyên úy Adolph Kolping 35 tuổi, Chúa đã giao phó một nhiệm vụ đặc biệt cho ngài tại Cologne: đó là đồng hành với những người khác, Chúa đã đặt ngài như là một người dẫn đường cho những người công nhân và thợ thầy vào lúc xã hội và tôn giáo đang xuống cấp. Khi sự cạnh tranh và thử thách xuất hiện từ những vấn đề xã hội trong thế kỷ 19, Cha Adolph Kolping đã cố gắng đưa ra những giải pháp thích hợp mang tính Kitô giáo, ngài đã đóng vai trò tiên phong trong Giáo hội nhưng đồng thời lại là cái gai bằng xương bằng thịt trong mắt những chức sắc của Giáo hội.
So với tư tưởng Marxist của Karl Marx và Engels, chương trình của Cha Adolph Kolping dường như đơn giản và hấp dẫn hơn. Theo Cha Kolping, bất kỳ sự thay đổi nào vì sự tốt đẹp hơn trong Giáo hội và xã hội cũng đều được mang lại “sự cần cù” của từng cá nhân. Cha Adolph Kolping tin rằng đây là nền tảng cơ bản cho những nỗ lực của ngài nhằm thiết lập các Cộng đoàn Những Người Thợ Thầy Công giáo.
Cha Adolph Kolping đã sẵn sàng cho sự thiết lập một Cộng đoàn Những Người Thợ Thầy đầu tiên của ngài bằng năng lượng và sự quyết tâm to lớn. Trong những năm sau đó, Cộng đoàn này đã trở thành trung tâm của mọi phong trào. Cha Adolph Kolping tin chắc rằng Cộng đoàn Những Người Thợ Thầy Công Giáo không chỉ tập trung vào những vấn đề trong nội bộ nếu muốn đưa ra những giải pháp hợp lý và thuyết phục cho những vấn đề xã hội. Nhờ vào mối quan hệ cá nhân, ngài đã tự xoay sở để thuê một căn phòng ở trường thuộc giáo xứ Kolumba ở Cologne, nhằm tổ chức một buổi họp chỉ với bảy người thợ thầy vào chiều ngày 06/5/1849. Cha Adolph Kolping chắc chắn đã cảm thấy thất vọng đôi chút bởi vì ngài đã tin chắc rằng tư tưởng của mình sẽ có thể thu hút được đông người hơn vào buổi chiều hôm ấy. Thậm chí ngài thấy thất vọng hơn khi biết rằng Karl Max, người cùng thời với ngài ở Cologne, lại có thể thuê được căn phòng hội nghị lớn nhất kèm theo một lượng khán giả nhiệt tình. Dù sao đi nữa, tư tưởng của Karl Marx đã dần trở thành lịch sử. Ngược lại, tư tưởng của Cha Adolph Kolping lại trở thành “lịch sử với tương lai.” Điển hình, số thành viên đã tăng từ 07 người ban đầu thành 400.000 thành viên năng động như hiện nay thuộc 7.200 Gia Đình Khôi Bình trên 61 quốc gia rộng khắp thế giới.
Tất cả điều đó có thể bắt nguồn từ công việc của một cá nhân: Cha Adolph Kolping, thương nhân, linh mục, Cha của Những Thợ Thầy mà hiện nay chúng ta sùng kính - Chân phước Adolph Kolping, là một người đã viết nên lịch sử, là một người đã nhận ra tiếng gọi của Chúa bên trong mình và đi theo tiếng gọi đó.
Cha Những Người Thợ Thầy của chúng ta nổi bật với niềm tin kiên định của mình rằng đức tin không bao giờ được định hướng một cách riêng biệt cho chúng ta. Đối với Cha Adolph Kolping, thực hành đức tin nghĩa là trải rộng thông điệp của nó và đặt nó vào thực tế. Đức tin muốn và cần được sống. Đức tin và tôn giáo phải là một phần của cuộc sống hằng ngày. Hai điều đó không bao giờ bị tách rời khỏi thực tế khó khăn hoặc khỏi việc nuôi sống con người với hy vọng có một cuộc sống tốt hơn sau này. Điều này thực sự sẽ xác nhận lời chỉ trích chống lại Giáo hội bởi những người Cộng sản như Marx và Engels như họ đã nói: “Tôn giáo là liều thuốc phiện của người dân.”
Cha Adolph Kolping không đồng ý. Đức tin phải được củng cố mạnh mẽ bởi vì ước muốn của Thiên Chúa là sự cứu rỗi sẽ đến với hết thảy mọi người cũng như với sự cống hiến và dấn thân của họ. Với vai trò là một nhà cải cách xã hội Kitô giáo, Cha Adolph Kolping biết rằng con người còn hơn những gì mà họ đạt được. Con người được tạo dựng bởi Thiên Chúa và Thiên Chúa yêu thương những gì Người tạo ra. Điều này áp dụng vô điều kiện cho mỗi con người chúng ta mà không cần biết người đó giàu hay nghèo, được học hành hay không. Và kể từ khi con người được tạo dựng và được Thiên Chúa yêu thương, chúng ta phải giúp đỡ lẫn nhau.
Một ví dụ xuất phát từ những vấn đề xã hội trong thế kỷ 19 đã đưa ra một ví dụ cho sự tự do của loài người. Việc giải phóng cá nhân khỏi “cuộc sống nghèo khổ”, theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là không đủ. Trên thực tế, con người sẽ được tự do nếu như họ thoát khỏi được các tiện nghi của mình. Mục tiêu của Khôi Bình là không chỉ giải phóng con người “khỏi” một điều gì đó mà còn tiếp thêm sức mạnh để họ được tự do “để” làm một điều gì đó. Ở đây là đang nói về phẩm giá của con cái Chúa, là thứ không thể nào bị lấy đi bởi vì Chúa đã ban cho mỗi người chúng ta phẩm giá con người. Về mặt này, Cha Adolph Kolping được xem là người tiên phong của Học thuyết Xã hội Kitô giáo.
Tư cách của người Kitô giáo được điều khiển qua món quà của Chúa ban cho chúng ta, đó chính là phẩm giá con người. Do đó, mục tiêu đặc trưng của Cộng đoàn Khôi Bình chưa bao giờ chỉ tập trung vào việc cung cấp nơi ăn chốn ở, giáo dục hay đào tạo riêng cho người trẻ. Từ 169 năm trước, kế hoạch của Cha Adolph Kolping là cung cấp cho con người một sự giáo dục toàn diện. Để rồi bây giờ, chúng ta đang nằm trong sự quan tâm của Kolping về “tất cả khía cạnh của một con người.” Là một “nhà sư phạm toàn diện”, Cha Adolph Kolping đã đi trước thời đại và ngài là người tiên phong trong việc rao giảng những nguyên tắc Kitô giáo.
Tôi muốn chúng ta cũng phải đi trước thời đại mà không cần biết chúng ta đang làm việc ở cấp độ nào trong Cộng đoàn Khôi Bình Quốc Tế. Tôi muốn chúng ta hãy là những người tiên phong có những sự tác động tích cực lên Giáo hội và xã hội. Tôi muốn chúng ta hãy sáng tạo và giàu trí tưởng tượng về việc sống đức tin của chúng ta. Và nếu cần thiết, hãy là một cái gai bằng xương bằng thịt như Cha Adolph Kolping, là người đã giúp người khác biến điều ước có một cuộc sống tử tế hơn của họ thành hiện thực.
Đức ông Ottmar Dillenburg,
LMĐHKB Quốc tế
Chuyển ngữ: Paul Nguyễn Hữu Nghĩa Hiệp
 
 
 
 
Thông tin khác:
|||||
Thánh lễ truyền chức linh mục tại nhà thờ Chính toà Sơn Lộc, ngày 27.08.2019
Liên kết website
Tiêu điểm
Website www.giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log