Thứ năm, 26/05/2022

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật IV Mùa Vọng năm C

Cập nhật lúc 09:28 16/12/2021
Suy niệm 1
Phép lạ chuyến viếng thăm
Lc 1, 39-45
Cô đơn
Bất cứ ai đều có sự cô đơn ít nhất là tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời mình. Có những khoảnh khắc chúng ta cô đơn, lẻ loi, ngoài tầm với mọi thứ và mọi người. Chúng ta tìm kiếm và chờ đợi một lời động viên đến với chúng ta, nhưng mọi thứ dường như sụp đổ. Chúng ta thất vọng thu mình lại, cảm giác bị lạc lõng giữa thế giới này, tránh xa mọi niềm vui có thể. Chúng ta cố che giấu nỗi cô đơn đó bằng cách gượng ghịu mỉm cười vì sợ phải chịu đựng gánh nặng thương hại hoặc lo lắng của người khác. Thật vậy, lòng trắc ẩn của người khác đối với chúng ta, lại càng nhốt chúng ta trong cô đơn.
Vâng, vào thời điểm gần đến Giáng sinh, đối với những người đang gặp đau khổ và các nạn nhân của cơn dịch bệnh covid, gánh nặng của sự cô đơn thậm chí còn không thể chịu đựng được. Rào cản ngăn cách họ với niềm vui của người khác dường như không thể vượt qua. Sự lo lắng khi ở một mình, khi tất cả những người khác ở cùng nhau, sẽ trở thành một ngọn núi có thể đẩy đưa họ roi vào tình trạng trầm cảm... Là người kito, chúng ta đừng để mình sống trong sự cô đơn như vậy!
Cuộc gặp gỡ
Maria và Isave, hai người phụ nữ có quan hệ họ hàng, nhưng nhiều điều khác biệt giữa 2 người.
- Maria và Isave, hai người phụ nữ, nhưng có lẽ rất ít gặp nhau.
- Maria và Isave, chị em họ với nhau, nhưng lại sống xa nhau. Từ Na-da-rét đến thành Giu-đê-a, một không gian, một ngọn núi cần phải vượt qua: một quãng đường dài đối với một người phụ nữ, không nên đi xa nhà chồng hoặc cha mẹ chồng.
- Mặc dù cả hai sẽ làm mẹ, nhưng một rào cản khác đang tồn tại giữa họ, đó là thế hệ: Maria còn rất trẻ, Isave lại quá già! Maria vào buổi bình minh của Tân ước, Isave vào lúc hoàng hôn của Cựu ước!
Maria và Isave, hai người phụ nữ khác biệt. Nhưng hôm nay họ đến gặp nhau bởi vì cả hai đều tin vào cùng một phép lạ, phép lạ của Lời. “Phúc cho em là người đã tin rằng lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện”.
- Isave, người phụ nữ hiếm muộn. Maria đồng trinh. Cả hai đều được hứa làm mẹ vì họ đã tin vào lời Chúa phán.
- Họ tin rằng Lời có thể làm cho cuộc sống của họ hiệu quả. Lời Thiên Chúa ở trong họ, đẩy họ đến cuộc gặp gỡ nhân loại đơn giản này. Đây là lúc phép lạ xảy ra. Vì chưng, nếu  lời Truyền tin là một phép lạ, phép lạ Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, thì cuộc viếng thăm vĩ đại này, lời thăm viếng này cũng là một phép lạ, bất chấp mọi trở ngại đối với cuộc gặp gỡ.
Đây là hai người phụ nữ, không đóng lại trong mầu nhiệm và trong sự vui sướng riêng tư của mỗi người: đối với Đức Maria sẽ được làm Mẹ Đấng Cứu Thế mà vẫn đồng trinh; còn đối với bà Isave, sẽ sinh con trong tuổi già và son sẻ. Họ còn khao khát cuộc gặp gỡ mới và trao đổi những từ đơn giản như "Kính chào"!... Khi Lời Chúa mặc lấy xác phàm, khi Lời Chúa ở trong chúng ta, chúng ta luôn nhận ra đó là phép lạ của sự thăm viếng.
Đây là hai phụ nữ mang thai. Trong đó, một người mang mầm mống của một nhân tính hoàn hảo: nhân tính của người sẽ được đặt tên là Giêsu. Thiên Chúa đảm nhận nhân tính này:Thần Khí Chúa đến tràn ngập Đức Maria. Vừa mới được thụ thai, Maria ra khỏi chính mình và đến với người khác, là chị họ Isave, với người mà lúc này "Hài nhi nhảy mừng trong lòng". Hài nhi này sẽ chào đón Chúa Giêsu trên bờ sông Gio-đan.
Chuyến thăm viếng
Nếu lời ở trong chúng ta không thúc giục chúng ta tiến về phía nhau, thì đó không phải là Lời của Thiên Chúa. Những người mà khi Lời Thiên Chúa nhập thể vào trong họ, họ liền đến với người khác không phải vì thương hại, nhưng vì họ cảm thấy rằng mỗi cuộc gặp gỡ làm nên vẻ đẹp và sự vĩ đại của cuộc đời họ. Những người sống cô đơn sẽ cảm thấy mãnh liệt tinh thần, khi chúng ta đến với họ. Phép lạ chuyến thăm viếng được thực hiện khi sự thương hại biến mất và nhường chỗ cho một ước muốn thực sự được gặp gỡ.
Tất nhiên, đó là một phép lạ… Nhưng chúng ta có thể không tin vào điều đó vì nhiều lý do khác nhau: Có rất nhiều rào cản giữa con người, có rất nhiều ngọn núi phải vượt qua! Mọi thứ khiến chúng ta nghĩ rằng cuộc gặp gỡ là khó khăn, thậm chí nguy hiểm hoặc không thể thực hiện được.
Nhưng cũng có thể có một quan điểm khác. Quan điểm của người muốn tin vào điều kỳ diệu - vào điều không thể - tin vào một lời đã nói cách đây hai nghìn năm: ““Phúc cho những ai tin rằng lời Chúa phán sẽ được thực hiện”! Phúc cho những ai tin vào phép lạ của lễ Đức Mẹ Thăm Viếng bà thánh Isave!
Hạnh phúc tin của Đức Maria dẫn tới cuộc gặp gỡ và viếng thăm mà bài tin mừng chủ nhật hôm nay đề cập đến. Chủ nhật hôm nay cũng là chủ nhật cuối cùng của Mùa vọng chuẩn bị đón mừng Chúa giáng sinh. Chúng ta hãy noi gương Đức Maria hạnh phúc tin để đón mừng Chúa đến gặp gỡ toàn thể nhân loại chúng ta. Chúa đến sẽ làm nhiều điều kỳ điệu!
Linh mục Gioan Đặng Văn Nghĩa
===================
Suy niệm 2
Lc 1, 39 – 45
Bài Tin Mừng cho chúng ta hai điều để suy gẫm.
Một. Đức Maria, Mẹ của chúng ta lúc đó đang ở tuổi vị thành niên. Trên pháp lý Đức Mẹ đã là con dâu của dòng họ thánh Giuse. Trong hoàn cảnh như thế, Đức Mẹ đã thực hiện một cuộc hành trình dài 136 cây số, tức là phải lội bộ bốn ngày và nghỉ trọ ba đêm. Ngoài ra trong túi còn phải có một số tiền tương đương với hai chỉ vàng. Đi đã tốn tiền nhiều, lại còn phải chuẩn bị cho chuyến về nữa. Khổ cực như thế, tốn phí như thế và còn nguy hiểm về nhiều mặt. Người ta thường nói tắt là “Thân gái dặm trường”.
Bình thường mà nói, không có cha mẹ nào nỡ tâm cho con gái thực hiện một chuyến đi như thế. Cha mẹ thánh Giuse cũng không thể đồng ý điều đó. Dư luận xóm giềng cũng sẽ lên án quyết định ấy. Vậy mà Đức Mẹ đã vượt qua mọi trắc trở để làm được điều ấy. Điều đó chứng tỏ rằng Đức Mẹ của chúng ta dù đang ở tuổi vị thành niên, đã có đủ uy tín để làm được việc của người lớn. Chắc chắn bà con xóm giềng sẽ có nhiều ý kiến về vấn đề này. Đại khái có thể có người chê trách: “Tại sao bố mẹ con Maria liều thế. Lỡ ra bị ăn cướp và bị hãm hiếp thì sao. Vả lại con gái mà đi bộ tới bốn ngày đi và bốn ngày về. Eo ơi, ghê quá!” Sau nhận xét ấy, chắc chắn sẽ có nhiều người góp ý: “Đối với người ta thì không nên làm như thế. Nhưng với con Maria thì không sao đâu. Nó đảm đang lắm, thông minh lắm, khôn ngoan lắm. Không ai bắt nạt được nó đâu. Không ai hãm hiếp được nó đâu. Tôi già bằng này rồi mà vẫn phải thua nó đấy.”
Đó là chân dung của Đức Maria, Mẹ chúng ta. Đáng kính vô cùng! Đáng mến quá chừng!
Hai. Cuộc hành trình đầy gian lao này dẫn Đức Mẹ đến thăm bà Êlidabét, chị bà con của Đức Mẹ. Bà là người đàn bà vô sinh, già cóc rồi mà vẫn không được làm mẹ và bị xã hội đánh giá là người đàn bà bạc phước. Bà được Chúa cho thụ thai một bé trai tên là Gioan. Đứa con này được Đức Giêsu gọi là sứ ngôn cao trọng nhất của Cựu Ước. Lúc ấy bé ở trong bụng mẹ được sáu tháng.
Khi Đức Mẹ và bà Êlidabét chào nhau, thì thai nhi sáu tháng chòi đạp rất mạnh trong bụng mẹ, khiến bà Êlidabét cảm nghiệm được hồng ân của Chúa. Bà cũng được biết cô em Maria đang mang thai Đấng Cứu Thế. Bởi vậy bà đã thốt nên một lời, do đặc sủng Chúa ban cho. Bà nói: “Bởi đâu tôi được Mẹ của Chúa đến thăm tôi.” Một bà chị già mà tôn vinh cô em là “Mẹ của Chúa tôi”. Ôi vinh dự lớn lao của Đức Maria, Mẹ của chúng ta.
Thế là hai chị em sống bên nhau suốt ba tháng trời. Suốt ba tháng, hai chị em trao đổi biết bao tâm tư về lịch sử cứu độ. Họ yêu nhau quá thể. Họ cùng nhau yêu Chúa quá chừng.
Mong rằng mỗi người chúng ta cũng tha thiết tâm sự với Đức Maria như bà Êlidabét. Mong rằng chúng ta cũng gắn bó vui buồn cuộc đời của mình với vui buồn cuộc đời của Đức Mẹ. Như vậy đời của ta cũng tuyệt vời như cuộc đời của bà Êlidabét.
Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu

===================
Suy niệm 3
THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

Kính thưa cộng đoàn Phụng Vụ dân Chúa! Mỗi khi Giáng Sinh về, từng giáo xứ, nhà nhà bắt đầu dành thời giờ làm hang đá. Dù hang đá có hoành tráng hay đơn sơ, có lấp lánh ánh đèn bừng sáng hay chỉ lung linh huyền ảo, có to lớn hay nhỏ bé đi chăng nữa, thì không thể thiếu bộ tượng Thánh Gia Thất: Chúa Giê-su Hài Đồng nằm giang tay, Mẹ Maria và Thánh Cả Giu-se cung kính bái quỳ bên Con Chúa. Ngoài ra, đâu đó nơi hang đá có một dòng chữ “Em-ma-nu-el - Thiên Chúa ở cùng chúng ta” nữa!
Chắc hẳn, trong mỗi chúng ta đều nghe đến và hiểu dòng chữ này, đặc biệt khi chờ trông, dọn lòng đón Chúa Hài Nhi giáng trần cứu chuộc nhân loại. Danh xưng “Em-ma-nu-el - Thiên Chúa ở cùng chúng ta” không những xuất hiện trong Tân Ước mà đã được nhắc tới trong Cựu Ước khi nói đến một vị Thiên Chúa có tính nhân vị, hằng hữu và luôn ở cùng với Dân của Ngài. Tuy nhiên, danh xưng này được cảm nhận rõ rệt, cụ thể qua Con Một Thiên Chúa được sinh hạ bởi một người phụ nữ vẹn tuyền khiết trinh Ma-ri-a tại Bê-lem, quê hương Vua Đa-vít mà đã được tiên tri loan báo từ lâu: “Hỡi Bê-lem Éph-ra-ta, ngươi nhỏ nhất trong trăm ngàn phần đất Giu-đa, nhưng nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Is-ra-el, và nguồn gốc Ngài có từ nguyên thuỷ” (Mk 5, 1). Và lời tiên tri phán xưa đã được ứng nghiệm hầu hoàn tất Lời Chúa và chương trình Cứu độ của Ngài “…người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-el, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (x. Mt 1, 22-23), và Mẹ Ma-ri-a là người đầu tiên cảm nghiệm sâu sắc biến cố này. Tuy vậy, Mẹ không giữ cho riêng mình, mà ‘trỗi dậy, vội vã ra đi đến miền sơn cước, thăm viếng và chia sẻ niềm vui khôn tả này cho bà chị họ I-sa-ve’ (x. Lc 1, 39-40).
Nói như Thánh Phao-lô Tông Đồ, Thiên Chúa là người nhất quán, tín trung, thực hiện lời hứa cứu độ của Ngài. Thiên Chúa sống đúng với danh xưng “Em-ma-nu-en - Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Ngài chẳng bao giờ bỏ quên chúng ta; Ngài chẳng loại chúng ta ra khỏi ý định cứu độ của Ngài; và như lời xác tín gửi cho giáo đoàn Rô-ma “…theo mạc khải mầu nhiệm được giữ kín từ đời đời, nhưng nay được tỏ bày…” (x. Rm 16, 25-26). Ngoài ra, tác giả thư gửi tín hữu Do Thái cũng quả quyết điều ấy: “Chính bởi thánh ý đó mà chúng ta được thánh hoá nhờ việc hiến dâng Mình Chúa Giê-su Ki-tô một lần là đủ” (x. Dt 10, 10).
Thật vậy, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” trong mọi biến cố cuộc đời: vui mừng hay buồn tủi, thành công hay thất bại, tín thác hay ngờ vực, thịnh vượng hay suy vong, hạnh phúc hay bất hạnh, mở lòng đón nhận hay khép kín chối từ, lúc mạnh khoẻ hay bệnh tật, khi thuận lợi hay bất lợi, những lúc được hậu thuẫn hay bị chống đối…Về phần chúng ta, dường như chúng ta chưa cảm nhận sâu xa về điều này; hoặc vì nhiều nỗi lo toan cuộc sống, bôn ba công việc, kiếm kế sinh nhai, lo hoà nhập vào xã hội, hay đang đi tìm chỗ đứng trong xã hội, mà lắm lúc đôi mắt đức tin chúng ta trở nên mờ căm trước sự hiện diện sống động của Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta!
Với tinh thần Mùa Vọng là một dịp thuận lơi, một khoảnh khắc vô giá cho mỗi người chúng ta nhìn lại bản thân, hết lòng ăn năn, sám hối, dọn lòng đón mừng Chúa Hài Đồng sinh lại nơi tâm hồn, nơi gia đình, nơi cộng đoàn, giáo xứ, xã hội và cả thế giới đầy những sự bất an này. Hơn nữa, đây cũng là thời cơ vắn vỏi cho mỗi người chúng ta đến với Chúa, sống cùng với Chúa trong mọi trạng huống cuộc đời. Con người chúng ta thường chỉ nhận ra sự cần thiết của việc chạy đến với Chúa mỗi khi gặp khó khăn, gian nan, hay gặp những nỗi buồn chán, mà quên trở về bên Chúa, nép vào lòng Ngài những lúc vui tươi, thành công hay hạnh phúc! Chúng ta không quên noi theo gương Mẹ Ma-ri-a sẵn sàng đáp lời “xin vâng” với Chúa, ngay cả thời khắc sợ hãi, hay đứng trước nguy cơ rủi ro, khi chưa hiểu thấu chương trình và ý định của Ngài, “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền” (x. Lc 1, 38).
Hơn nữa, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” và Ngài cũng ở cùng với anh chị em chúng ta nữa. Vì thế, mỗi khi chúng ta sống trong sự hiện diện của Chúa, sống kết hiệp với Chúa mọi giây phút, thì chúng ta cũng được mời gọi sống với anh chị em trong gia đình, lối xóm, cộng đoàn giáo xứ nữa. Thiết nghĩ chẳng ai sống kết hợp với Chúa mọi lúc mà lại xa lánh tha nhân, anh chị em mình, vì chưng, chính nơi họ “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” đang hiện diện cách sống động và cụ thể nhất! Mầu nhiệm “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” được bộc lộ cụ thể, rõ nét nơi mọi hành vi, lời nói, cử chỉ, tư tưởng của chúng ta; đặc biệt, trong Mùa Giáng Sinh này, chúng ta nên chọn cho mình một quyết tâm mà bấy lâu nay chúng ta chưa thực hiện được. Có thể chúng ta chọn tha thứ cho ai đó vì Giáng Sinh là mùa để thứ tha; hoặc chúng ta làm hoà với một ai đó vì Giáng Sinh là thời gian để giao hoà; và trên hết Giáng Sinh là Mùa hồng ân, nơi đó “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” tỏ hiện nơi xác phàm, ngõ hầu cứu độ chúng ta.
Giờ đây, chúng ta cùng lắng đọng ít phút trước Chúa Tình Yêu và thầm thỉ nguyện rằng:
Em-ma-nu-el, Thiên Chúa ở cùng chúng ta
Xin thương ân ban cho con luôn được bên Chúa
Em-ma-nu-el, Thiên Chúa ở cùng chúng ta
Ra đi chia san, phó dâng trọn đời sống con. Amen!

Lm. Xuân Hy Vọng

===================
Suy niệm 4
​Vui vì được Chúa thăm viếng

(Lc 1,39-45)

Lễ Giáng Sinh, lễ của tình yêu, niềm vui và chia sẻ, lễ kỷ niệm Thiên Chúa viếng thăm dân Người.
Lời của ngôn sứ Mikha lôi kéo chúng ta hướng nhìn về Belem và chung niềm vui với họ. Bởi Belem, châu thành bé nhỏ của nước Giuđa, một biến cố vĩ đại xảy ra không chỉ làm cho Israel nhảy mừng, mà cả thế giới mừng vui: “Hỡi Bêlem Ephrata, ngươi nhỏ nhất trong trăm ngàn phần đất Giuđa, nhưng nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Israel, và nguồn gốc Người có từ nguyên thuỷ, từ muôn đời” (Mk 5,1). Không mừng vui sao được, vì nói đến Belem, là người ta nghĩ ngay đến một thành nhỏ cách Giêrusalem chừng 30 dặm về phía Nam. Ðavít đại vương, tổ tiên của Đấng Mêsia đã sinh ra tại đây từ ngàn năm trước Chúa Kitô giáng sinh, chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương, tha thứ và đem niềm vui cho Israel.
Niềm vui, tình yêu và sự sẻ chia ấy được cụ thể hóa nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa giáng sinh làm người tại Belem. Tin Mừng thánh Luca thuật lại rằng, Chúa Giêsu đã sinh ra tại Belem bởi vì ông Giuse, chồng của bà Maria, “thuộc dòng dõi Ðavít” phải trở về nơi ấy để kiểm tra dân số, và chính vào lúc đó Maria đã hạ sinh Hài Nhi Giêsu (x. Lc 2,1-7).
Cứ sự thường, để chọn nơi chốn cho con mình sinh ra, người cha sẽ chọn Giêrusalem, một kinh thành có đầy đủ tiện nghi và nổi tiếng. Thiên Chúa thì khác, Ngài đã chọn Giuđa một thị tộc nhỏ bé nhất Ephratha, giống như chọn David là đứa con nhỏ nhất trong gia đình của Giêse, để làm vua thay Saul.
Cách trích dẫn có tính lịch sử của Malaki giúp ta hình dung ra ra ngày Chúa đến gặp dân Ngài. Khi phải sống lưu đày xa Thiên Chúa, con người cảm thấy đau khổ. Nay “tiết đông giá lạnh đã qua, mùa mưa đã dứt” (Dc 2,11). Thiên Chúa chuẩn bị viếng thăm và ra tay cứu thoát.
Cuộc viếng thăm của Đức Mẹ nơi gia đình Dacaria cho thấy, Thiên Chúa đã đến gần. Tin Mừng ghi lại: “Maria chỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabeth” (Lc 1,39-40), cuộc viếng thăm tưởng như là cuộc thăm viếng giữa người với người; nhưng thực tế, đây là cuộc thăm viếng lịch sử, Thiên Chúa viếng thăm dân Ngài. Thiên Chúa đã chuẩn bị biến cố này từ lúc con người sa ngã trong vườn Địa Đàng. Từ đó, con người khao khát Thiên Chúa viếng thăm; vì nhờ Chúa viếng thăm, con người được Thiên Chúa đổi vận mạng: từ chỗ bị lưu đày đến chỗ được vào Đất Hứa, từ chỗ phải xa cách Thiên Chúa đến chỗ được đoàn tụ với Ngài muôn đời, từ chỗ phải chết đến chỗ sống muôn đời,.
Bà Elisabeth đại diện cho Dân Chúa đón nhận niềm vui Chúa ban : Thứ nhất, Bà đang chịu cảnh góa bụa đau khổ và mang tiếng là không con; nhưng Thiên Chúa đã thay đổi cuộc đời Bà, cho Bà được cưu mang và sinh hạ Gioan Tẩy Giả trong lúc ông đã già, bà đã lão. Thứ hai, Bà được Mẹ Thiên Chúa tới viếng thăm, vì Người Con Mẹ Maria sắp sửa sinh ra sẽ mang lại ơn cứu độ cho Bà và cho muôn người.
Nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, bà Elisabeth nhận ra Người Con Đức Maria đang cưu mang là Đấng Cứu Thế, bà kêu lên : “Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc! Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi? Vì này, tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực” (Lc 1, 42-45) Bà Elisabeth và Gioan Tẩy Giả tượng trưng cho gia đình nhân loại trong Cựu Ước, vui mừng khi được Đấng Thiên Sai đến viếng thăm. Bà Elisabeth biết rõ lý do tại sao Đức Mẹ thật có phúc: “vì đã tin rằng Chúa phán cũng Bà sẽ được thực hiện” (Lc 1,45). Ông Dacaria, chồng bà Elisabeth, người đã nghi ngờ, không tin nơi lời hứa của Thiên Thần và vì thế ông bị câm cho đến khi Gioan sinh ra.
Đức Maria có phúc vì đã tin, ông Dacaria không tin nên đã bị câm điếc. Ðức tin được nuôi dưỡng trong đức ái. Đức Maria chỗi dậy và vội vã lên đường đến gặp bà Elisabeth. "Chỗi dậy" là một cử chỉ đầy ân cần. Lẽ ra Ðức Maria có thể ở lại nhà để chuẩn bị sinh con, nhưng trái lại Mẹ chăm lo cho những người khác trước khi lo cho bản thân. Qua những cử chỉ đó Đức Maria chứng tỏ mình đã là môn đệ của Đấng mà Mẹ mang trong lòng. Biến cố Chúa Giêsu sinh ra bắt đầu như thế, với một cử chỉ bác ái đơn sơ là viếng thăm, chia sẻ niềm vui, mang lại hy vọng cho gia đình Dacaria và Elisabeth.
Lễ Giáng Sinh đã gần kề, cuộc viếng thăm của Đức Maria nơi bà Elisabeth giúp chúng ta chuẩn bị sống tốt đẹp lễ Giáng Sinh, thông truyền cho chúng ta năng động của đức tin và đức ái nhờ tác động của Chúa Thánh Thần như ta thấy trong cuộc gặp gỡ giữa hai bà mẹ, tất cả là một bài ca vui mừng hân hoan trong Chúa, Ðấng thực hiện những điều cao cả nơi những người bé nhỏ tín thác nơi Ngài.
Lạy Mẹ Maria, xin giúp cho chúng con hướng về Chúa Giêsu Hài Nhi đang dang tay ra cần sự trợ giúp, ám chỉ tha nhân cần đến chúng con. Như thế chúng con mới có thể dành chỗ cho Ðấng là Tình Thương, ngày hôm nay muốn nhập thể và đến ở giữa chúng ta.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ 

===================
Suy niệm 5
Hiện diện bên nhau

Khi đang lâm bệnh ngặt nghèo, thập tử nhất sinh hay đang cơn hấp hối mà có người thân yêu ở kề bên chia sẻ cảm thông thì đó là niềm an ủi lớn lao không gì sánh được.
Khi gặp cô đơn sầu não không kẻ đoái hoài mà có một người bạn chân tình hiện diện bên cạnh thì không gì quý báu hơn.
Trong những trường hợp đó, người ta mới cảm nhận được nhu cầu có người thân sống-với mình hay hiện-diện-bên-cạnh mình cần thiết xiết bao!
Vì thế, Đức Cha Gaillot, một giám mục Pháp, đã nhận định rất xác đáng rằng:
“Sống quảng đại thì tốt, nhưng sống-với tốt hơn;
Việc từ thiện là cần thiết, nhưng hiện-diện-bên-cạnh cần thiết hơn.”
Như thế, chấp nhận sống-với tha nhân, hiện-diện-bên-cạnh tha nhân, nhất là trong hoàn cảnh đau thương, thì tốt hơn mọi hình thức trao ban, giúp đỡ khác.
Thiên Chúa sống-với con người 
Thiên Chúa là Người Cha nhân lành rất yêu thương nhân loại nên Ngài muốn sống với, muốn hiện diện bên cạnh nhân loại luôn mãi. Chính vì thế, Thiên Chúa tự xưng mình là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa hằng ở cùng chúng ta (Mat-thêu 1, 23).
Vì muốn ở cùng nhân loại nên Ngôi Hai Thiên Chúa đã vượt qua khoảng cách vô tận giữa trời và đất để đến ở với loài người.
Vì muốn ở cùng nhân loại nên Chúa Giê-su đã sống kiếp phàm nhân suốt ba mươi ba năm để chia sẻ vui, buồn, sướng, khổ của phận người.
Và khi đã sống lại, lên trời vinh hiển, Chúa Giê-su vẫn không rời xa các môn đệ. Ngài nói với họ:
“Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
“Thầy đi để dọn chỗ cho các con… Thầy sẽ trở lại để đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng sẽ ở đó” (Mt 14,3).
Vì mong muốn ở lại mãi với các môn đệ, nên Chúa Giê-su khấn nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con” (Mt 17,24).
Thế rồi Chúa Giê-su lập Bí tích Thánh thể để không những ở với, ở cùng, hiện diện bên cạnh mà còn ở trong chúng ta và nên một với chúng ta.
Mẹ Maria sống-với con người 
Vì biết rằng nhu cầu được thăm viếng, được sống với, được hiện diện bên cạnh là rất cần thiết nên khi hay tin người chị họ cao niên của mình được Chúa đoái thương cho cưu mang quý tử, Đức Maria đã không quản ngại thân gái dặm trường, sẵn sàng băng rừng vượt núi tiến lên miền sơn cước để chúc mừng, để phục vụ và nhất là để sống - với, để hiện diện bên cạnh người chị họ cao niên suốt ba tháng trời (Lc 1, 39. 43. 56).
Về sau nầy, khi tâm hồn các môn đệ hoang mang xao xuyến sau biến cố Chúa Giê-su về trời, Mẹ Maria tiếp tục hiện diện bên các môn đệ, củng cố niềm tin đang chao đảo của các ngài.
Và rồi trong suốt dòng lịch sử Hội thánh, Giáo hội phải nhiều phen trải qua gian lao sóng gió, Mẹ Maria luôn có mặt trong những thời điểm khó khăn đen tối, để hiện diện và đồng hành với đoàn con cái trong lúc gian nan, để ủi an khích lệ họ trong cảnh u sầu như Mẹ đã thực hiện tại La-vang, Fatima, Lộ-đức và nhiều nơi khác.
Lạy Chúa Giê-su,
Xin cho chúng con noi gương Chúa là Emmanuen, là Đấng hằng ở với loài người để chia sẻ ngọt bùi với bao người chung quanh; xin cho chúng con bắt chước Mẹ Maria là Đấng luôn hiện diện bên con cái mình để che chở ủi an họ trong những lúc gian truân khốn khó; xin giúp chúng con trở nên những Emmanuen khác, để viếng thăm, an ủi, để sống-với, để hiện-diện-bên-cạnh những người đang gặp hoàn cảnh đau thương.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

=================== 
Suy niệm 6
“Xin Cho Được Lòng Yêu Người”

Điều gì xảy ra trong lòng Đức Trinh Nữ Maria sau khi thiên sứ Gabriel từ giả? Để nói lên điều ấy, thánh Luca kể ngay việc Đức Trinh Nữ Maria vội vã lên đường đi viếng bà Êlidabet và sử dụng đoạn Cựu Ước kể chuyện Vua Đavit trước Hòm Bia Giao Ước về Giêrusalem (x.2Sm 6). Cuộc viếng thăm là cuộc gặp gỡ giữa hai người mẹ diễm phúc, hai người con đang được cưu mang đồng thời là giữa hai giao ước cũ và mới trong niềm vui ơn cứu độ.
1. Hòm Bia Giao Ước và Đức Maria
Vua Đavit sai người đi rước Hòm Bia về trên một cỗ xe mới do bò kéo, theo sau một đoàn rước với đầy đủ mọi thứ nhạc cụ. Nhưng khi xe đi tới một sân lúa thì bò trượt chân, Hòm Bia bị nghiêng. Ông Útda vội đưa tay đỡ lấy Hòm Bia. Nhưng Útda không phải là tư tế nên lẽ ra không được chạm tới Hòm Bia thánh, vì thế nên bị phạt chết. Nghe tin đó, Đavit sợ không dám đem Hòm Bia về Giêrusalem nữa, mà phải gửi lại nhà ông Ôvết Êđom. Chúa đã giáng phúc cho ông này cùng cả nhà ông. Khi Đavit biết được điều này thì ông không sợ nữa và lại sai người rước Hòm Bia về Giêrusalem. Thời gian Hòm Bia ở lại nhà ông Ôvet Êđom là ba tháng (2 Sm 6,1-12).
Khi viết bài tường thuật việc Đức Maria đi thăm bà Êlidabet, thánh Luca muốn cho thấy những nét song song với câu chuyện trên.

  • Cả Hòm Bia và Đức Maria đều đi theo hướng tiến về Giêrusalem.
  • Hòm Bia đã lưu lại nhà ông Ôvet Êđom ba tháng, Đức Maria cũng lưu lại nhà bà Êlidabet ba tháng.
  • Nhà ông Ôvet Êđom đã được Thiên Chúa giáng phúc, nhà bà Êlidabet cũng thế: chồng bà Êlidabet hết câm, đứa con trong bụng nhảy mừng lên và chính bản thân bà được đầy tràn Thánh Thần.
  • Hòm Bia xưa giữ Lời Thiên Chúa khắc ghi trên hai bia đá; nay cung lòng Đức Maria cưu mang Lời Thiên Chúa đã làm người.
  • Xưa Thiên Chúa xuống trên núi Sinai uy nghi trong khói và lửa, phán bằng tiếng sấm sét, rồi khắc Luật trên bia đá trao cho ông Môsê; nay Thiên Chúa xuống làm bào thai yếu đuối trong lòng Đức Trinh Nữ Maria để lập Giao Ước Mới.
Thánh Luca muốn nói Đức Maria là Hòm Bia mang Chúa Giêsu đến với gia đình bà Êlidabet nên đã đem phúc đến cho mọi người trong nhà này.
Câu chuyện Đức Mẹ thăm viếng bà Êlidabet được Giáo Hội dùng làm đề tài suy gẫm khi lần chuỗi Mân Côi, chục thứ hai Mùa Vui: “Thứ hai, Đức Bà đi viếng bà thánh Ysave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người”. Nhưng “yêu người” là thế nào? Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cho chúng ta biết cụ thể: cách yêu người tốt nhất là mang Chúa đến cho người ấy, để Chúa giáng phúc cho người ấy. Mà muốn đem Chúa đến cho người ta thì chúng ta phải có Chúa trong mình. Mình đi đến đâu thì Chúa đi đến đó, mình thăm viếng ai thì Chúa thăm viếng và ban phúc cho người đó.
Từ trước tới nay, chúng ta vẫn ý thức rằng yêu người là giới luật quan trọng ngang hàng với giới luật mến Chúa.Từ ý thức đó, chúng ta cố gắng yêu người bằng nhiều cách như: giúp đỡ, chia sẻ, viếng thăm…Thế nhưng, có lẽ chúng ta làm tất cả những việc đó chỉ với một ý hướng hoàn toàn nhân bản và tự nhiên, như giữa người với người thôi. Chúng ta đem đến cho người ta những an ủi, khích lệ, giúp đỡ chỉ có giá trị hoàn toàn nhân loại. Muốn cho những việc yêu người của chúng ta đem đến những lợi ích siêu nhiên cao quý hơn nữa thì hãy noi gương Đức Mẹ: mang Chúa đến cho người ta, mà muốn thế chúng ta phải có Chúa trong mình để chính Chúa cùng đi với mình mang phúc lành đến cho những người mà mình gặp gỡ (Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái).
2. Niềm Vui của Hai Bà Mẹ
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay chứa chan niềm vui. Bà Êlidabet vui mừng vì được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm. Đức Maria vui mừng vì được Thiên Chúa đoái thương. Hài nhi Gioan vui mừng vì được tha tội ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Những niềm vui ấy hoà chung làm cho cuộc gặp gỡ trở thành một lễ hội vui mừng tạ ơn Thiên Chúa. Suối nguồn  của những niềm vui ấy là ơn Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần đã giúp chuẩn bị các tâm hồn đón nhận niềm vui ơn cứu chuộc.
Đây là cuộc gặp gỡ giữa hai người mẹ, hai người con đang được cưu mang cũng là giữa hai giao ước cũ và mới.
Giữa hai người mẹ: Đức Maria thăm viếng đem niềm vui có Chúa cho gia đình người chị họ. Ở lại phục vụ người chị trong thời gian mang thai sinh con. Êlidabet được ơn Thánh Thần đã xưng tụng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và đã ca tụng đức tin của Đức Mẹ.
Giữa hai người con: Nghe lời chào của người mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế, con trẻ Gioan trong lòng mẹ nhảy mừng vui sướng.
Giữa hai giao ước:  Cuộc viếng thăm của Đức Mẹ là cuộc gặp gỡ giữa hai giao ước. Thời đại mới mở ra giao ước mới. Con Thiên Chúa làm người khai mở giao ước của thời đại ân sủng và tình yêu.

3. “Xin cho được lòng yêu người”
Khi đến thăm bà Êlidabet, Mẹ Maria đem Chúa đến cho người thân của mình. Nhờ Mẹ mang Chúa đến, nên không chỉ bà Êlidabet vui mừng mà hài nhi trong lòng bà cũng vui theo mà “nhảy lên” hân hoan. Nhảy mừng diễn tả niềm vui. Đây là niềm vui ơn cứu độ. Sự hiện diện của Đức Maria mang đến niềm vui và còn có sự biến đổi khiến hai mẹ con bà Êlidabet được tràn đầy Thánh Thần, và nhờ đó nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi  Đức Mẹ. Gia đình Bà Êlidabet là gia đình đầu tiên được Chúa Cứu Thế viếng thăm. Đây là gia đình diễm phúc đón nhận niềm vui ơn cứu độ.
Đến thăm nhau không chỉ là một phương cách biểu lộ tình yêu, nói lên sự quan tâm, mà còn là một dịp thuận lợi để đem Chúa đến cho người mình thăm viếng. Nhờ ta đem Chúa đến mà niềm vui của người được thăm tăng lên gấp bội, và họ nhận lãnh được Thánh Thần.
Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa là mình nói thật nhiều thật hay về Chúa cho họ nghe. Đức Maria có nói gì về Chúa với Bà Êlidabet đâu! Chúa là tình thương, ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân, khi chính ta thật sự yêu thương họ bằng một tình yêu chân thực. Đến với nhau bằng tình thương, bằng niềm vui là sự gặp gỡ có Chúa hiện diện rồi. Khi người ta mang hận thù oán ghét, ý nghĩ đen tối đến với nhau thì nảy sinh bất hoà chiến tranh và đau khổ. Ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân khi ta đến với ý muốn làm hiện thân của Chúa đối với họ, và coi họ cũng là hiện thân của Chúa đối với mình.
Thiên Chúa yêu thương nhân loại nên đã ban tặng Con Yêu Dấu là Đức Giêsu. Người đến với con người trong lịch sử, cách đây hơn hai ngàn năm. Người đem ơn cứu độ và đem hạnh phúc đến cho mọi người, cho từng người. Khi còn tại thế, Đức Giêsu đã đến thăm nhiều người, nhiều gia đình. Người quan tâm chăm sóc chữa lành những bệnh nhân. Người giảng dạy và ân cần với những người nghèo. Ngưòi cải hóa nhiều tội nhân. Người biểu lộ tình yêu thương cho mọi người.Đức Giêsu muốn chúng ta tiếp nối công việc của Người.
Một trong những vấn đề mục vụ hàng đầu của linh mục là thăm viếng giáo dân. Khi đến một giáo xứ mới, công việc đầu tiên của linh mục là đi thăm tất cả các gia đình trong giáo xứ. Như mục tử với đoàn chiên, linh mục biết tình hình chung, biết hoàn cảnh mọi gia đình trong xứ. Từ đó có kế hoạch mục vụ để mang lại hiệu quả thiết thực cho cộng đoàn.
Các tu sĩ, các hội đoàn trong giáo xứ có những thời giờ thăm viếng mục vụ. Đến với các bệnh nhân, người già cả, người nghèo, gia đình rối, gia đình bất hoà luôn được coi là việc tông đồ. Đem Chúa đến với anh chị em của mình là niềm vui và là sứ mạng của người tín hữu.
Những tuần lễ Mùa Vọng, mỗi người trong xứ đạo tiết kiệm chi tiêu để làm việc bác ái. Những phần quà ân tình chia sẻ cho các gia đình nghèo trong Đêm Giáng Sinh thật ý nghĩa, diễn tả tình yêu và sự quan tâm đến người khác.
Đức Maria viếng thăm phục vụ và đem Chúa đến với gia đình bà Êlidabet. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp và là mẫu gương cho mọi tín hữu noi theo. Dành thời giờ quý báu để thăm nhau. Chia sẻ tình thương và đem niềm vui có Chúa cho tha nhân luôn là sứ vụ của người tín hữu.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết quan tâm đến niềm vui, nỗi khổ, và nhu cầu của từng người sống chung quanh chúng con. Xin giúp chúng con biết hy sinh thì giờ cho dù rất quí báu để năng đến gặp gỡ, thăm viếng nhau, hầu nhờ đó thông cảm được những nỗi vui buồn và nhu cầu của anh chị em. Xin giúp chúng con biết sẵn sàng chia vui sẻ buồn và tìm mọi cách để giúp đỡ những nhu cầu chính đáng của họ. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

=================== 
Suy niệm 7
Mang Tình Yêu Lên Đường
Mk 5,1-4a; Dt 10,5-10; Lc 1, 39-45

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Maria vừa hay tin bà chị họ ở xa, đã già mà diễm phúc có thai được sáu tháng, Mẹ liền vội vã khăn gói, tức tốc vượt đường xa xôi thăm chị. Có lẽ lúc ấy Mẹ chẳng kịp chuẩn bị quà cáp và cũng chẳng có gì. Nhưng đây lại là “chuyến bác ái để đời” cho người Kitô hữu qua mọi thời gẫm suy, câu chuyện hai bà bầu gặp nhau.
Trong chuyến viếng thăm này, Mẹ mang theo gì mà xảy ra chuyện lạ lùng quá? Mẹ chưa hề nói cho chị họ biết những gì Thiên Chúa đã thực hiện cho Mẹ. Vậy mà bà Êlisabét vừa nghe tiếng Mẹ chào, thì em bé trong bụng bà “nhảy” lên vui sướng. Sau biến cố Truyền Tin, Mẹ đã cưu mang Con Thiên Chúa và hôm nay đem đến cho gia đình Dacaria, Thánh Thần “rợp bóng” trên Mẹ tràn sang, làm bà chị bỗng kêu lên mà nói toàn những “thứ tiếng mới lạ”: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” (Lc 1,43-45). Lạ lùng thay! cuộc gặp gỡ gây… “chấn động” cả hai thai nhi, là vì có sự Hiện Diện của Thiên Chúa trong Mẹ và lan tỏa đến cả người đối diện nữa.
Không chỉ đem niềm vui, bằng tình yêu, đem Chúa đến cho gia đình Dacaria, “tưng bừng” ngay hôm đó mà thôi, Mẹ còn ở lại đó ba tháng. Không chỉ đến chia sẻ niềm vui, Mẹ biết chị họ đang cần gì và Mẹ sẵn sàng ở lại chăm sóc, phục vụ việc nhà tận tình, trong lúc bà chị mang thai những tháng cuối, lúc người phụ nữ cần giúp đỡ hơn bao giờ hết. Thánh Phaolô khuyên tín hữu thành Rôma: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình… Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà… vui với người vui, khóc với người khóc”.
Mẹ ơi! Mẹ là mẫu gương sống bác ái yêu thương phục vụ, bằng tình yêu hy sinh thật tuyệt vời! Xin Mẹ dạy con biết sống bác ái yêu thương, sẻ chia tấm lòng, biết đem niềm vui, nhất là biết đem Chúa đến với mọi người mà chúng con gặp gỡ trong cuộc sống mỗi ngày.

Én Nhỏ

Thông tin khác:



|||||
Thánh lễ Truyền Chức Giám Mục Đaminh Hoàng Minh Tiến tại nhà thờ Chính toà Sơn Lộc | 14.02.2022
Liên kết website
Tiêu điểm
Câu chuyện truyền giáo – Nguyên Tắc Sống
Câu chuyện truyền giáo – Nguyên Tắc Sống
Cuộc sống có kỉ luật là cuộc sống lí tưởng bởi “ai giữ luật thì luật sẽ giữ người ấy”. Nhưng phải xem luật đó có phù hợp với địa vị và lứa tuổi của mình không?
Website www.giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log