Chủ nhật, 25/10/2020

Thông điệp FRATELLI TUTTI -TẤT CẢ LÀ ANH CHỊ EM của Đức Thánh Cha Phanxicô về tình mến đệ huynh và tình hữu nghị xã hội.

Cập nhật lúc 06:16 16/10/2020
 
THÔNG ĐIỆP
FRATELLI TUTTI (TẤT CẢ LÀ ANH CHỊ EM)
của Đức Thánh Cha Phanxicô
về TÌNH MẾN ĐỆ HUYNH và TÌNH HỮU NGHỊ XÃ HỘI

 
  1. Tất cả là Anh chị em” (Fratelli Tutti) [1]. Thánh Phan-xi-cô Át-si-zi nói những lời này với anh chị em của ngài, cũng như đề xuất cho họ một lối sống đầy hương vị Phúc Âm. Nhờ lời khuyên răn của thánh nhân, tôi muốn chọn lời ngài mời gọi cho tình bác ái mà nó vượt lên các giới hạn địa lý cũng như khoảng cách, và khẳng khái công bố ơn lành cho những ai yêu mến anh chị em mình “nhiều đến nỗi khi cách xa mà vẫn cảm thấy như đang kề bên” [2]. Với lối nói đơn sơ nhưng trực diện này, Thánh Phan-xi-cô đã lột tả bản chất của sự cởi mở huynh đệ mà nó cho phép chúng ta thừa nhận, cảm kích và yêu thương mỗi người, bất luận tương đồng về thể lý, hay nơi chào đời hoặc sinh sống.
     
  2. Chính tình mến huynh đệ, lòng đơn sơ cũng như niềm vui của thánh nhân đã tạo nguồn cảm hứng cho tôi biên soạn Thông điệp Laudato Si’, và một lần nữa gợi hứng cho tôi hiến trọn Thông điệp mới này cho tình mến đệ huynh và tình hữu nghị xã hội. Thánh Phan-xi-cô cảm nhận mình là anh em của mặt trời, biển cả và gió, nhưng ngài cũng biết rõ mình gần gũi hơn với chúng như thể xác thịt mình. Bất kể đến đâu, thánh nhân luôn gieo những hạt giống bình an, và đồng hành với người nghèo, với ai bị bỏ rơi, với người yếu đau, người bị loại ra ngoài, những người mọn hèn nhất trong số anh chị em của ngài. 
KHÔNG BIÊN GIỚI 
  1. Có một tình tiết trong đời của Thánh Phan-xi-cô cho thấy sự cởi mở tâm hồn của ngài, mà nó được biết tới như vô hạn và vượt lên những khác biệt về nguồn gốc, quốc tịch, màu da hay tôn giáo. Đó là lần ngài viếng thăm Sultan Malik-el-Kamil, tại Ai Cập. Cuộc thăm viếng này đã đẩy ngài vào nguy khó, nghèo khổ, nguồn sống cạn kiệt, chặng đường hành trình quá xa xôi, phải đối diện với sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá và tôn giáo. Nhưng chuyến đi vào thời Thánh chiến ấy tỏ lộ tình yêu của ngài ngày càng sâu rộng lớn lao và luôn tìm kiếm để ôm trọn mọi người. Lòng tín trung đối với Chúa của Thánh Phan-xi-cô cũng ngang tầm với tình mến mà ngài dành cho anh chị em. Chẳng bận tâm đến những nỗi gian nan, hiểm nguy, thánh nhân đến gặp gỡ Sultan với cùng một thái độ mà ngài hằng truyền lại cho môn đệ mình: nếu như họ tự nhận là những người “thuộc nhóm Saracen hay vô thần khác”, thì họ không nên “tham dự vào các cuộc tranh biện hay tranh chấp”, cũng chẳng cần chối bỏ căn tính riêng, “nhưng vì ý Chúa, họ phải lệ thuộc vào mọi loài thọ tạo” [3]. Trong bối cảnh thời đại, đây là một đề xuất lạ thường. Chúng ta ấn tượng rằng kể từ khoảng 800 năm, Thánh Phan-xi-cô thúc giục nên tránh xa mọi hình thức thù nghịch hay mâu thuẫn, và sống “lời đề xuất” khiêm hạ, yêu thương trong tình đệ huynh với những ai không chia sẻ cùng đức tin.  
     
  2. Thánh nhân không phát động khẩu chiến nhắm tới áp đặt những tín lý, mà chỉ truyền bá tình yêu Thiên Chúa, bởi lẽ ngài hiểu rõ “Thiên Chúa là tình yêu, và những ai sống trong tình yêu thì sẽ sống trong Người” (1Ga 4, 16). Nhờ vậy, ngài trở thành người cha hiền của mọi người, và mang lại nguồn cảm hứng cho tầm nhìn của xã hội đệ huynh. Quả thật, “chỉ ai đến gần với tha nhân, chứ không xa lánh họ trong đời, mới giúp họ trở nên chính mình trọn vẹn hơn, và sẽ thực sự được gọi là người cha” [4]. Trong thế giới thời ấy, đầy dẫy tháp canh và tường thành phòng ngự được dựng lên, còn thành thị là rạp chiếu phim của những trận chiến tàn bạo giữa các gia đình quyền lực, ngay cả sự đói nghèo trải rộng khắp vùng quê. Tuy nhiên, thánh Phan-xi-cô vẫn ân cần tiếp nhận bình an nơi tâm hồn, và tự giải thoát bản thân khỏi tham vọng nắm giữ uy quyền cai trị người khác. Ngài đã trở thành người nghèo trong số họ, và luôn nỗ lực tìm cách sống hoà nhã với tất cả. Thật vậy, chính Thánh Phan-xi-cô đã gợi hứng cho tôi viết lên những trang này.
     
  3. Các vấn đề về tình huynh đệ giữa con người cũng như tình hữu nghị xã hội luôn luôn là mối quan tâm của tôi. Gần đây nhất, tôi đã lặp đi lặp lại, và trình bày ở nhiều khung cảnh khác nhau. Tuy nhiên, trong Thông điệp này, tôi muốn tập hợp và đưa chúng vào một bối cảnh suy tư rộng lớn hơn. Khi chuẩn bị viết Thông điệp Laudato Si’, tôi đã lấy nguồn cảm hứng từ người hiền huynh của tôi, Đức Thượng Phụ Chính Thống giáo Bar-tô-lô-mê-ô, người đã mạnh mẽ đề cập đến nhu cầu chăm sóc mọi loài thọ tạo. Hơn nữa, lúc ấy, tôi được Vị Imam Đáng kính Ahmad Al-Tayyeb khích lệ đặc biệt, người mà tôi đã gặp tại Abu Dhabi, nơi đó chúng tôi cùng tuyên bố “Thiên Chúa đã tạo dựng mọi người bình đẳng về nghĩa vụ, trách nhiệm, phẩm giá, và kêu mời họ sống với nhau như anh chị em” [5]. Đây không đơn thuần là cử chỉ ngoại giao, mà là một suy tư được ra đời từ tinh thần đối thoại và cam kết chung. Vì vậy, Thông điệp hiện tại này sẽ đề cập và triển khai một số chủ đề lớn lao mà đã được nêu ra trong Tài liệu chúng tôi cùng nhau ký kết. Với tư tưởng cá nhân, tôi cũng sẽ kết hợp nhiều tông thư, văn kiện cũng như những đánh giá mà tôi nhận được từ không ít cá nhân và các nhóm trên toàn thế giới.
     
  4. Phần trình bày sau đây không nhằm đưa ra một giáo thuyết toàn vẹn về tình huynh đệ, nhưng đúng hơn cân nhắc phạm vi phổ quát, và tính rộng mở của nó dành cho mọi người, nam cũng như nữ. Tôi xin mến tặng Thông điệp xã hội này như một sự đóng góp nhỏ bé cho những suy tư tiếp diễn, với hy vọng rằng khi đối mặt với mọi nỗ lực loại bỏ hay phớt lờ người khác thời nay, chúng ta có thể chứng tỏ khả năng đáp ứng dựa trên tầm nhìn mới mẻ của tình hữu nghị xã hội và lòng mến đệ huynh mà không chỉ ở mãi cấp độ ngôn từ. Tuy tôi viết từ niềm xác tín Ki-tô giáo mà đã linh hứng và dưỡng nuôi tôi, nhưng tôi xin dành suy tư này như một lời mời gọi đối thoại giữa toàn thể mọi người đầy thiện chí.
     
  5. Khi tôi đặt bút viết tâm thư này, đại dịch Cô-vi-19 bất ngờ bùng phát, khiến chúng ta bất an. Tuy vậy, ngoài những giải pháp khác nhau mà các quốc gia ứng phó với cuộc khủng hoảng này, thì tính bất lực trong việc chung tay hành động lại trở nên khá rõ rệt. Do mọi kết nối vượt ranh giới quá mức, mà chúng ta chứng kiến sự rạn nứt chia rẽ, lại càng khó giải quyết những vấn đề này đang tác động đến chúng ta hơn. Nếu ai cũng chỉ nghĩ rằng đây là bài học kinh nghiệm cần phải cải thiện việc chúng ta đang làm, hoặc tinh luyện các hệ thống và quy định hiện tại, thì chính họ đang phủ nhận thực tế. 
     
  6. Trong thời đại chúng ta, tôi ước mong rằng chúng ta có thể đóng góp vào việc tái sinh lòng khát khao phổ quát về tình đệ huynh bằng cách thừa nhận phẩm giá của mỗi con người. Tình mến giữa tất cả đàn ông cũng như phụ nữ. “Nay chúng ta có một bí quyết huy hoàng tiết lộ cho chúng ta biết ước mơ thế nào, cũng như biến đời mình thành cuộc hành trình khám phá tuyệt vời. Chẳng ai có thể đối mặt với cuộc sống trong sự cô lập cả…Chúng ta cần đến một cộng đồng luôn hỗ trợ và giúp đỡ chúng ta, và ngược lại, chúng ta cũng có thể giúp đỡ nhau mãi hướng nhìn về phía trước. Thật hệ trọng biết bao khi cùng nhau mơ ước…Tự bản thân, chúng ta liều mình nhận ra ảo vọng, cũng như mọi thứ không hiện hữu ở đó. Nhưng ước mơ được chung xây” [6]. Vì thế, chúng ta hãy cùng nhau mơ ước như một gia đình nhân loại đơn nhất, như những người bạn đồng hành cùng xác phàm, như những đứa con cùng chung địa cầu, là ngôi nhà chung của chúng ta, để mỗi chúng ta chia sẻ tính phong phú đa dạng của niềm tin cũng như tín ngưỡng riêng, với ngôn từ giọng nói của mình, vì tất cả đều là anh chị em với nhau. 
CHƯƠNG I
MÂY ĐEN BAO TRÙM THẾ GIỚI KHÉP KÍN 
  1. Không nhằm thực hiện một phân tích toàn diện hay nghiên cứu mọi khía cạnh của cảm nghiệm thời nay, mà đơn giản, tôi chỉ muốn xem xét một số xu thế trong thế giới chúng ta mà nó đang cản trở sự tiến triển của tình huynh đệ phổ quát. 
NHỮNG GIẤC MƠ VỠ TAN  
  1.  Qua bao thập niên, tưởng chừng thế giới chúng ta đã học được biết bao bài học kinh nghiệm từ nhiều cuộc chiến tranh cũng như thảm hoạ, và đang dần tiến tới các loại hình hoà nhập khác nhau. Thí dụ, đã từng có một ước mơ Âu Châu hợp chủng, có khả năng thừa nhận nguồn gốc chung và hân hoan tận tưởng trước tính đa dạng phong phú của nó. Chúng ta nghĩ đến “niềm xác tín vững chắc của những vị sáng lập Liên hiệp Châu Âu, hình dung một tương lai dựa trên năng lực cộng tác hàn gắn chia rẽ, cổ vũ hoà bình và hiệp thông giữa mọi dân tộc thuộc châu lục này” [7]. Tương tự, cũng có một mong ước hoà nhập ngày một tăng tại Châu Mỹ Latinh, và vô vàn biện pháp đã được thực hiện theo hướng này. Ở vài quốc gia và khu vực, các nỗ lực hoà giải và nối lại tình hữu nghị được minh chứng hiệu quả, trong khi nhiều nỗ lực khác cho thấy đầy hứa hẹn triển vọng.
     
  2. Tuy nhiên, thời đại chúng ta ngày nay dường như đang cho thấy nhiều dấu hiệu của một sự thoái trào nào đó. Các xung đột xa xưa mà đã bị chôn vùi bấy lâu đang bùng phát trở lại, trong lúc trường hợp điển hình của chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến, phẫn uất, thiển cận, cực đoan đang trên đà gia tăng. Tại một số đất nước, khái niệm thống nhất quốc gia phổ biến bị các ý thức hệ khác nhau chi phối, đang tạo ra nhiều hình thái của thói ích kỷ và đánh mất cảm thức xã hội do chiêu bài đội lốt bảo vệ lợi ích quốc gia. Một lần nữa, chúng ta được nhắc nhở rằng “mỗi thế hệ sau phải gánh vác mọi tranh đấu và thành tựu của thế hệ trước, trong khi đặt tầm nhìn của mình cao hơn. Đó chính là chặng đường. Lòng tốt, cùng với tình yêu, công bình và liên đới, không chỉ đạt được một lần và cho tất cả mãi mãi, mà là phải nhận ra nó mỗi ngày. Chẳng thể nào an phận với những gì đã đạt được trong quá khứ, và tự mãn tận hưởng nó như thể bằng cách nào đó, chúng ta không đếm xỉa gì đến thực tại mà nhiều người anh chị em vẫn đang chịu đựng những tình cảnh cần chúng ta lưu tâm” [8].
     
  3. “Mở rộng toàn cầu” là kiểu nói mà các nhà kinh tế-tài chính kết nạp, và nay chỉ được sử dụng độc quyền cho lợi ích nước ngoài hay mở cửa tự do cho những cường quốc kinh tế đầu tư mà không cần phải đối mặt với ngăn trở hoặc điều kiện phức tạp tại mọi quốc gia. Các xung đột địa phương và thói xem thường lợi ích chung bị nền kinh tế toàn cầu lợi dụng nhằm áp đặt một mô hình văn hoá đơn nhất. Nền văn hoá này thống nhất thế giới, nhưng chia rẽ các dân tộc và quốc gia, bởi vì “xã hội ngày càng trở nên toàn cầu hoá, nó biến chúng ta thành hàng xóm láng giềng với nhau, nhưng không làm chúng ta trở thành anh chị em của nhau” [9]. Chúng ta cô đơn hơn bao giờ hết trong một thế giới đang bùng nổ chóng mặt, nó thúc đẩy tư lợi, nhưng làm suy yếu tính cộng đồng của đời sống. Thật vậy, quá nhiều thị trường mà nơi ấy các cá nhân chỉ là giới tiêu thụ đơn thuần hoặc những kẻ bàng quan. Như một quy luật, sự tiến bộ của loại hình toàn cầu hoá này củng cố căn tính của kẻ mạnh thêm, là những người chỉ bảo vệ bản thân, nhưng lại có xu hướng hạ thấp căn tính của người yếu thế và các khu vực nghèo hơn, khiến họ càng tổn thương và bị lệ thuộc. Theo cách này, đời sống chính trị trở nên mong manh trước các cường quốc kinh tế xuyên quốc gia hoạt động dựa trên nguyên tắc “chia để trị”. 
Kết cuộc của ý thức lịch sử 
  1. Vì vậy, ngày càng đánh mất cảm thức lịch sử, dẫn tới tình trạng chia rẽ thậm chí còn sâu xa hơn. Một loại “chủ nghĩa phá hoại” đang tồn tại và dần hình thành trong văn hoá ngày nay, theo đó, tự do của con người cho là mình có thể tạo ra mọi thứ từ con số không. Khi trỗi dậy, một thứ nó để lại phía sau đó là động lực tiêu thụ vô hạn và các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rỗng tuếch. Bận tâm về điều này đã khiến tôi đưa ra vài lời khuyên cho người trẻ. “Nếu như ai đó bảo các bạn trẻ làm ngơ lịch sử của họ, bác bỏ những kinh nghiệm của bậc cao niên, xem thường quá khứ và hướng tới một tương lai mà chính họ nắm giữ, thì lúc đó há chẳng dễ dàng lôi kéo họ để họ chỉ làm theo những gì người này nói với họ thôi sao? Người này muốn các bạn trẻ nông nổi, quên đi nguồn cội và bất tín, để chỉ biết tin tưởng vào lời hứa hẹn suông, rồi làm theo kế hoạch của kẻ ấy. Đây là phương cách mà các ý thức hệ khác nhau được vận hành: chúng huỷ hoại (hoặc phá hoại) tất cả đặc tính khác biệt, để rồi dễ dàng cai trị mà chẳng lo bị phản đối. Tuy nhiên, để làm điều đó, chúng cần các bạn trẻ mù mờ về lịch sử, khinh thường những giá trị tâm linh và nhân bản phong phú, mà được thừa hưởng từ các thế hệ đi trước, cũng như vô tri mọi thứ diễn ra trước họ” [10].
     
  2.  Đây là những hình thức thực dân kiểu mới về văn hoá. Chúng ta đừng quên rằng “dân tộc nào từ bỏ truyền thống của mình, kể cả do loạn trí bắt chước kẻ khác, hay vì bạo lực xúi giục, lẫn do tính phóng túng không thể dung thứ hoặc vì thói ác cảm, đều cho phép kẻ khác cướp lấy chính linh hồn họ, dẫn đến kết cuộc đánh mất không chỉ bản sắc tinh thần, mà còn cả sự nhất quán đạo đức của họ, và sau cùng, là tính độc lập về trí tuệ, kinh tế lẫn chính trị nữa” [11]. Một cách hữu hiệu nhằm làm suy yếu ý thức lịch sử, tư duy biện chứng, tranh đấu cho công lý và mọi diễn trình hoà nhập, đó là biến những hạn từ tuyệt vời nơi dân tộc ấy thành sáo rỗng, hoặc thao túng họ. Ngày nay, các cụm từ như dân chủ, tự do, công bằng hay hiệp nhất thật sự có nghĩa gì? Chúng đã bị bẻ cong, và bị bóp méo, chỉ được xem như những công cụ thống trị, như các cụm từ vô nghĩa, ngõ hầu biện minh cho bất cứ hành động nào.   
THIẾU KẾ HOẠCH CHO MỌI NGƯỜI 
  1.  Cách tốt nhất để thống trị và kiểm soát mọi người là truyền bá nỗi tuyệt vọng và sự nhát đảm, ngay cả bằng hình thức đội lốt bảo vệ các giá trị nào đó. Ngày nay, tại nhiều quốc gia, lối nói cường điệu, chủ nghĩa cực đoan và tính phân cực trở thành những công cụ chính trị. Vận dụng chiến lược chế nhạo, đa nghi và chỉ trích tàn nhẫn, cũng như bằng mọi cách khước từ quyền con người được sinh tồn và được nêu ý kiến. Các giá trị và chân lý cùng sẻ chia của họ bị từ chối, và do đó, đời sống xã hội trở nên nghèo nàn và chịu cảnh tùng phục trước sự xấc xược của kẻ nắm quyền. Đời sống chính trị thì không còn phải tranh biện lành mạnh về các kế hoạch lâu dài, nhằm thúc đẩy cuộc sống của người dân, và phát triển công ích nữa, ngược lại, chỉ toàn là những kỹ thuật quảng bá đánh bóng chủ yếu nhắm tới việc hạ bệ uy tín người khác. Trong bối cảnh kết tội hèn nhát cũng như buộc tội này, tranh luận chỉ khiến suy thoái, rơi vào tình trạng bất hoà và đối đầu vĩnh viễn mà thôi.
     
  2. Giữa bao xung đột lợi ích tranh chấp, nơi bao hàm cả chiến thắng phải loại bỏ đối thủ, thì làm sao chúng ta có thể nâng tầm mắt để nhận ra người lân cận của ta, hay giúp những ai ngã quỵ giữa đường được? Một kế hoạch đưa ra với các mục tiêu lớn lao để phát triển toàn bộ gia đình nhân loại ngày nay trông như chứng mất trí ngớ ngẩn. Chúng ta ngày càng xa cách nhau, trong khi chặng đường đòi hỏi tiến chậm về một thế giới dần dần thống nhất và công bằng, thì nó đang chịu cảnh thoái trào kiểu mới ghê gớm.
     
  3. Quan tâm đến thế giới mà chúng ta đang sống nghĩa là phải quan tâm đến chính mình. Song, chúng ta cần ngẫm nghĩ về bản thân nhiều hơn như một gia đình đơn nhất đang chung sống trong ngôi nhà chung. Mối quan tâm này không gây hứng thú gì cho những cường quốc kinh tế mà nó đang đòi hỏi lợi nhuận nhanh chóng. Đôi khi tiếng nói cất lên để bảo vệ môi trường bị buộc câm lặng hay bị chế giễu, sử dụng những lập luận bề ngoài hợp lý chỉ để làm bình phong cho tư lợi đặc biệt. Trong nền văn hoá nông cạn thiển cận mà chúng ta tạo ra cướp đi viễn kiến chung này, “có thể tiên liệu rằng một khi nguồn tài nguyên cạn kiệt, thì cuộc chiến tranh mới sẽ được dàn xếp xảy ra, cho dù dưới chiêu bài các yêu sách cao thượng nào chăng nữa” [12]. 
Một thế giới “vứt bỏ” 
  1.  Dường như, một số thành phần trong gia đình nhân loại chúng ta có lẽ sẵn sàng hy sinh cho lợi ích của người khác, mà họ được xem là đáng được hưởng một cuộc sống vô tư hơn. Nói cho cùng, “con người không còn được coi là giá trị tối thượng cần được chăm sóc và tôn trọng nữa, đặc biệt khi họ nghèo nàn và tàn tật, ‘chưa hữu dụng” – như những trẻ thơ chưa chào đời, hay ‘không còn cần nữa’ – như người già nua. Chúng ta trở nên thờ ơ với mọi hoang phí, khởi đi từ việc lãng phí thức ăn, mà hành vi này đáng trách vô cùng” [13].
     
  2. Tỉ lệ sinh giảm dẫn tới hiện trạng dân số già, cùng với chuyện đẩy người già vào cuộc sống buồn bã và cô đơn, chính là cách thức tinh vi, lột tả mọi điều về chúng ta rằng chỉ những thứ mà cá nhân mình quan tâm mới quan trọng. Như vậy, “không chỉ thức ăn và vật dụng thừa thải bị vứt bỏ, mà đôi khi con người cũng chịu như vậy” [14]. Chúng ta chứng kiến mọi điều xảy ra với người lớn tuổi ở nơi nào đó trên thế giới này như là một hệ luỵ của vi-rút cô-rô-na. Họ không đáng phải chết như thế; nhưng vài sự việc tương tự đã diễn ra khá lâu suốt thời gian nóng bức, cũng như trong nhiều tình cảnh khác: người già nhận thấy mình bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn. Chúng ta không nhận ra rằng chính chúng ta đang làm gia đình mình biến dạng và trở nên nghèo nàn, mỗi khi cô lập người già, để họ bơ vơ một mình mà chẳng có thành viên nào mảy mảy đến chăm sóc, gần gũi, quan tâm, vỗ về. Kết cuộc, chúng ta cũng cướp đi tình thân nối kết thiết thực của người trẻ với cội nguồn và sự khôn ngoan mà họ không thể tự mình có được.
     
  3. Cách loại bỏ người khác có lẽ diễn ra dưới vô vàn dạng thức khác nhau như: nỗi ám ảnh của việc giảm giá thành lao động mà chẳng cần bận tâm đến hậu quả khôn lường, kể từ lúc nạn thất nghiệp trực tiếp nổ ra, khiến sự nghèo khổ càng lan rộng [15]. Hơn nữa, chẳng chút do dự loại bỏ người khác thường được biểu lộ qua những thái độ xấu xa mà chúng ta đã ấp ủ trong tư tưởng từ lâu như: chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nó được chôn dấu sâu dưới lòng đất, chỉ chờ thời bùng phát trở lại. Nhiều vụ việc do chủ nghĩa này gây ra vẫn đang tiếp diễn, khiến chúng ta xấu hổ tủi nhục, vì nó cho thấy rằng sự tiến triển cần phải có của xã hội này cũng chẳng thật hoặc chắc chắn như chúng ta nghĩ.
     
  4. Một số quy luật kinh tế đã chứng tỏ hữu hiệu cho tính tăng trưởng, nhưng không nhằm phát triển nhân bản toàn diện [16]. Tài sản tăng, nhưng sự bất bình đẳng lại giảm, và hệ quả, “nhiều loại hình khó nghèo nảy sinh” [17]. Tuyên bố cho rằng thế giới hiện đại sẽ giảm đói nghèo bằng cách đo mức độ nghèo dựa trên các tiêu chuẩn xa xưa, mà không đáp ứng với những thực tế hiện nay. Thí dụ ở thời đại khác, nhà nhà thiếu điện, nhưng không ai xem đây là dấu hiệu của tình trạng nghèo đói, cũng chẳng phải là gốc rễ của gian truân. Sự nghèo khổ phải luôn luôn được thấu hiểu và được đánh giá đúng đắn trong bối cảnh của những cơ hội thật sự có sẵn tại mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. 
Thiếu nhân quyền phổ quát 
  1. Trên thực tế, chẳng phải lúc nào cũng rõ ràng, nhưng nhân quyền không bình đẳng cho tất cả mọi người. Tôn trọng những quyền ấy “là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của một quốc gia về mặt xã hội lẫn kinh tế. Khi phẩm giá con người được tôn trọng, thì quyền của họ được nhìn nhận và được đảm bảo, sự sáng tạo và tính phụ thuộc lẫn nhau đâm chồi nẩy lộc, và sáng kiến nơi phẩm hạnh con người được bộc lộ qua các hành động làm gia tăng công ích” [18]. Tuy nhiên, “quan sát kỹ lưỡng xã hội đương đại ngày nay, khi chứng kiến vô số tương phản, chúng ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi rằng liệu nhân phẩm bình đẳng đã được trân trọng công bố cách đây 70 năm, nay thật sự được nhìn nhận, tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy trong mọi hoàn cảnh chưa! Thế giới hôm nay còn tồn tại quá nhiều hình thức bất công, mà nó được bổ béo bằng những lối nhìn mang tính nhân chủng học giảm thiểu, và mô thức kinh tế chủ yếu dựa vào lợi nhuận không chút do dự bóc lột, trừ khử, thậm chí sát hại con người. Trong lúc một phần nhân loại sống trên nhung lụa sa hoa, thì phần khác nhận thấy phẩm giá của họ bị khước từ, bị nguyền rủa hay bị chà đạp, và những quyền căn bản của họ bị tước đoạt hoặc bị xâm phạm” [19]. Điều này nói cho chúng ta biết gì về bình đẳng quyền lợi vốn được gắn liền với phẩm giá bẩm sinh của con người?
     
  2. Tương tự, tổ chức xã hội toàn cầu vẫn còn xa vời với tư tưởng rõ ràng cho rằng phụ nữ sở hữu cùng một phẩm giá và quyền lợi căn tính như người nam. Chúng ta tiêu tốn nhiều lời về một sự việc, nhưng thực tế và các quyết định của ta lại là câu chuyện khác. Thật vậy, “những người phụ nữ ấy chịu khổ cực song đôi, vừa phải cam chịu tình cảnh bị loại trừ, bị ngược đãi và bạo hành, vừa không thể biện hộ quyền lợi cho bản thân” [20].
     
  3. Chúng ta cũng nên nhận ra rằng “ngay cả cộng đồng quốc tế có chấp nhận vô số hiệp ước nhắm tới việc chấm dứt tình trạng nô lệ dưới mọi hình thức, và phát động vô vàn chiến lược nhằm chống chọi với hiện tượng này chăng nữa, thì hàng triệu người ngày nay – trẻ em, phụ nữ và đàn ông với mọi lứa tuổi – đã bị tước đoạt tự do và buộc phải sống trong những điều kiện gần như nô lệ…Giống như trước kia, tình trạng nô lệ ngày nay bắt nguồn từ quan niệm của những người cho phép kẻ khác đối xử với bản thân mình như một món đồ…Cho dẫu bị cưỡng bách hoặc bị lừa dối, bị câu thúc về thể lý hay tâm lý đi nữa, thì con người vốn đã được dựng nên theo hình ảnh giống Thiên Chúa, nay bị cướp mất tự do, bị bán buôn và bị giảm thiểu hoá thành vật sở hữu của người khác. Họ bị đối xử như chỉ là phương tiện cho một mục đích…[các mạng lưới tội phạm] lợi dụng kỹ năng dùng hết mọi phương tiện truyền thông hiện đại để chiêu dụ đàn ông cũng như phụ nữ trên toàn thế giới” [21]. Một sự xuyên tạc vượt quá giới hạn khi nó bắt phụ nữ làm nô dịch, rồi ép buộc họ phá thai. Điều càng kinh tởm hơn là nạn bắt cóc con người nhằm buôn bán các bộ phận cơ thể họ. Mua bán con người và mọi hình thức nô lệ đương thời khác trở nên vấn đề toàn cầu, cần được hết thảy nhân loại nói chung nghiêm túc xem xét: “kể từ khi các tổ chức tội phạm sử dụng mạng lưới toàn cầu để đạt được những mục tiêu của chúng, thì mọi cố gắng xoá bỏ hiện tượng này cũng thật sự đòi hỏi một nỗ lực chung mang tính toàn cầu từ tất cả các bộ phận xã hội khác nhau” [22]. 
Mâu thuẫn và sợ hãi 
  1. Các cuộc chiến tranh, khủng bố, bách hại chủng tộc hoặc tôn giáo, và nhiều kiểu lăng mạ nhân phẩm tuy bị lên án bằng mọi cách khác nhau, nhưng còn phải lệ thuộc vào một điều chủ yếu là chúng thực sự thuận lợi cho nền kinh tế và lợi tức ra sao. Mọi thứ sẽ đúng đắn, miễn là nó tiện lợi cho ai đó nắm quyền, nhưng sẽ bị chấm dứt một khi không còn thuận lợi nữa. Cụ thể, những tình trạng bạo lực này “trở nên quá bình thường như thể tạo ra một ‘cuộc chiến tranh thế giới thứ ba’, mà trong đó đang phải vật lộn cho từng miếng ăn” [23].
     
  2. Điều này không quá đỗi ngạc nhiên, nếu chúng ta nhận ra rằng mình đã không chung tầm nhìn mà thống nhất ta nữa; quả vậy, nạn nhân đầu tiên của mọi cuộc chiến chính là “ơn gọi bẩm sinh cho tình mến huynh đệ của gia đình nhân loại”. Vì thế, “mọi tình cảnh đe hoạ sẽ sinh ra lòng bất tín và khiến con người chui rút về nơi an toàn của họ” [24]. Thế giới chúng ta bị mắc kẹt trong một mâu thuẫn lạ thường: chúng ta tin rằng mình có thể “đảm bảo tính an định và hoà bình bằng cảm thức sai lầm về sự an toàn mà được duy trì bởi một thứ não trạng sợ hãi và bất tín” [25].
     
  3. Nghịch lý thay, chúng ta đầy nỗi lo sợ di căn rằng sự phát triển công nghệ sẽ bị lụi tàn, không được nối vị; nhưng thật ra, những nỗi hãi hùng ấy đã và đang được che giấu cũng như được khuếch trương dưới dạng công nghệ tiên tiến. Tương tự, ngày nay, bên ngoài tường thành thị trấn cổ xưa thì đầy dẫy vực thẳm, địa hạt vô danh, và hoang mạc. Bất kể thứ gì đến từ đó đều chẳng thể tin được, bởi lẽ nó khuyết danh, xa lạ, không thuộc về bản sắc làng quê. Nó là địa hạt của “những kẻ man rợ”, mà chúng ta phải tự vệ chống lại chúng bằng mọi giá. Do đó, tường thành mới được dựng lên để tự bảo tồn, nhưng thế giới bên ngoài sẽ ngừng hiện hữu và chỉ còn lại thế giới “riêng tôi” đến độ người khác không còn được xem là con người vốn sở hữu một phẩm giá bất khả chuyển nhượng, giờ đây trở thành “bọn chúng/bọn họ”. Một lần nữa, chúng ta bắt gặp “cám dỗ xúi giục xây thành đắp luỹ văn hoá, dựng lên đồn lớn, thành cao trong tâm hồn, tường luỹ trên mặt đất, nhằm ngăn chặn giao lưu với các văn hoá khác, và gặp gỡ tha nhân. Cũng nên biết rằng những kẻ xây thành đắp luỹ sẽ kết thúc như những nô lệ trong chính bốn bức tường mà họ dựng lên. Họ chỉ còn lại một mình trong nỗi vô vọng bất định, bởi lẽ họ thiếu tương tác với người khác” [26].
     
  4. Những ai cảm thấy bị bỏ rơi vì hệ thống xã hội tạo ra đất đai mầu mỡ cho các nhóm “băng đảng mafia” khác nhau, thì lại trải nghiệm nỗi cô đơn, sợ hãi và bất an ray rứt. Chúng sinh sôi nẩy nở vì tự cho rằng họ sẽ bảo vệ những ai bị quên lãng, và giúp đỡ họ bằng mọi hình thức hỗ trợ khác nhau, nhưng thật chất họ chỉ đeo đuổi những lợi tức tội phạm thôi. Trong thực tế cũng đang tồn tại một khoa đào luyện được mệnh danh là thành viên băng đảng “mafia” điển hình, bằng cách kêu gọi tham gia vào một nền huyền bí cộng đồng giả tạo, tạo ra những ràng buộc lệ thuộc và dạ trung thành rất khó mà thoát ra được. 
TOÀN CẦU HOÁ VÀ TIẾN BỘ MÀ THIẾU BẢN ĐỒ DẪN LỐI CHUNG 
  1.  Cùng với vị Imam Đáng kính Ahmad Al-Tayyeb, chúng tôi không thể phớt lờ những tiến bộ tích cực trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, y tế, công nghiệp và phúc lợi, mọi sự tại những quốc gia phát triển. Nhưng “chúng tôi ước muốn nhấn mạnh rằng với tiến bộ lịch sử, vĩ đại và giá trị như chúng vốn có này, thì cũng tồn tại một sự sa đoạ luân lý mà nó chi phối đến hành động mang tính quốc tế, và làm suy yếu các giá trị tâm linh cũng như tinh thần trách nhiệm. Điều này thêm vào cảm giác thất vọng, cô lập và tuyệt vọng”. Chúng tôi chứng kiến “căng thẳng nổ ra và chạy đua vũ trang đạn dược trong một bối cảnh toàn cầu hoàn toàn bị chiếm lĩnh bởi sự phù vân, ảo tưởng tan vỡ, nỗi lo sợ tương lai, và bị những lợi ích kinh tế hạn hẹp kiểm soát”. Chúng tôi cũng chỉ ra rằng “nhiều cuộc khủng hoảng chính trị lớn, tình trạng bất công và thiếu sự phân bổ đồng đều về tài nguyên thiên nhiên…Khi đối mặt với những cuộc khủng hoảng như thế kéo theo hệ luỵ hàng triệu trẻ em thiệt mạng – gầy hao vì nghèo khổ và đói ăn – một sự câm lặng không thể chấp nhận được ở cấp độ quốc tế” [27]. Với tất cả những tiến bộ không thể phủ nhận trên, thì bối cảnh toàn cục này dường như không thể nào hướng tới một tương lai đầy nhân ái hơn được.
     
  2. Trong thế giới hôm nay, cảm thức thuộc về một gia đình nhân loại đơn nhất đang phai nhạt mờ dần, và giấc mơ chung tay hành động vì công lý và hoà bình dường như chỉ còn là một hệ thức cổ xưa không tưởng. Thay vào đó, những gì đang chiếm lĩnh, chính là sự thờ ơ nguội lạnh, tiện nghi mang tính toàn cầu, được ra đời từ ảo tưởng tan vỡ sâu sắc mà bị che dấu dưới ảo giác dối trá: nghĩ tưởng rằng chúng ta toàn năng, trong khi chẳng thể nào nhận ra mình cũng đang chơi vơi trên cùng một chiếc thuyền đời. Ảo tưởng này không màng đến các giá trị huynh đệ lớn lao, dẫn đến “một thứ triết thuyết yếm thế. Vì chúng ta phải đối mặt với cơn cám dỗ ấy, nên chúng ta rơi vào con đường của sự giải mê và nỗi thất vọng…Cô lập và thu mình vào tư lợi sẽ chẳng bao giờ là cách thức để khôi phục lại niềm hy vọng, cũng như dẫn đưa tới sự canh tân đâu. Đúng hơn, đó là sự gần gũi; văn hoá của gặp gỡ. Hãy nói ‘không’ với thái độ cô lập, thưa ‘vâng’ với sự gần gũi. Nói ‘không’ với xung đột văn hoá; nhưng thưa ‘vâng’ với văn hoá gặp gỡ” [28].
     
  3. Trong thế giới này, các cuộc chạy đua phía trước, song thiếu bản đồ dẫn lối chung, khiến chúng ta ngày càng cảm thấy “khoảng cách giữa sự quan tâm đến thiện ích cá nhân với sự phồn vinh của cả gia đình nhân loại rộng lớn hơn dường như đang giãn xa đến nỗi tình trạng chia rẽ hoàn toàn giữa những cá thể và cộng đồng nhân loại…Một mặt, cảm nhận bị thôi thúc phải sống chung với nhau, nhưng có gì đó khác hẳn trong cách đánh giá sự đa dạng và vẻ đẹp của những hạt giống nơi cuộc sống chung, mà nó cần phải được tìm thấy và được vun trồng” [29]. Kỹ thuật không ngừng tiến bộ, nhưng “sẽ tuyệt vời biết bao, nếu sự tăng trưởng của sáng kiến khoa học kỹ thuật đồng hành với sự bình đẳng và tính liên hệ xã hội bao hàm. Tuyệt vời biết bao, ngay cả khi chúng ta khám phá các hành tinh xa xôi kia thì cũng tái khám phá nhu cầu của anh chị em, mà họ đang trong quỹ đạo quanh chúng ta” [30]. 
NHỮNG TRẬN ĐẠI DỊCH VÀ TAI ƯƠNG KHÁC TRONG LỊCH SỬ 
  1.  Quả thật, bi kịch toàn cầu như trận đại dịch cô-vi-19 này tức khắc thay đổi cảm thức rằng chúng ta là một cộng đồng thế giới, tất cả đang trên một chiếc thuyền đời, nơi mà mọi vấn đề của một người cũng là của chung. Lần nữa, chúng ta nhận ra rằng không ai được cứu rỗi một mình cả; chúng ta chỉ có thể được cứu độ cùng nhau. Như tôi đã từng nói trong thời gian đó, “bão tố sẽ giật tung, phơi bày các thương tổn của chúng ta, và mở toang vô số những tất định sai lầm thừa thải ấy, mà xoay quanh nó, chúng ta đưa ra chương trình hằng ngày, đề án, thói quen và những điều ưu tiên…Giữa trận bão cuồng phong này, vẻ bề ngoài rập khuôn mẫu mà chúng ta dùng để nguỵ trang cái tôi bản thân, và nỗi bận tâm lo lắng về diện mạo ấy sẽ vỡ tan tành, lộ ra lần nữa nhận thức diễm phúc, song chẳng thể nào lãng tránh được một sự thật rằng chúng ta là bộ phận của nhau, và chúng ta là anh chị em với nhau” [31].
     
  2. Thế giới không hề nao núng thẳng tiến tới một nền kinh tế, mà nhờ kỹ thuật phát triển, nó tìm cách giảm thiểu “giá trị nhân bản”; chắc hẳn, có nhiều kẻ muốn chúng ta tin rằng tự do thương mại đủ để giữ mọi thứ an toàn. Thế nhưng cú đấm tàn ác mà chẳng thể tiên liệu của trận đại dịch ngoài tầm kiểm soát này đã buộc chúng ta phải khôi phục lại mối quan tâm đến con người, cho mọi người, hơn là lợi ích riêng của một vài thiểu số. Ngày nay, có lẽ chúng ta nhận ra rằng “mình nuôi dưỡng ước mơ rực rỡ và huy hoàng, nhưng lại kết thúc lãng phí trong sự rối bời, cô độc và đơn côi. Chúng ta ngấu nghiến nhồi nhét trên mạng xã hội, nhưng lại đánh mất mùi vị của tình mến huynh đệ. Chúng ta đi tìm kết quả nhanh chóng và an toàn chỉ để nhận ra mình bị choáng ngợp do tính nóng vội và khắc khoải âu lo. Là những tù nhân của thực tế ảo, chúng ta đánh mất khẩu vị và hương vị của thực tại đích thật” [32]. Nỗi đau, vô thường và sợ hãi, cũng như việc nhận ra những giới hạn bản thân, nhờ cơn đại dịch này mà khiến chúng ta phải quyết định cấp bách hơn là ngẫm nghĩ lại cung cách sống, các mối tương quan, tổ chức xã hội, và trên hết ý nghĩa của sự hiện hữu bản thân.
     
  3. Giả như mọi sự được kết nối, thì khó lòng hình dung ra một cơn đại hoạ toàn cầu mà chẳng liên can đến cách chúng ta tiếp cận thực tế, cũng như tự cho rằng chúng ta là những chủ nhân tuyệt đối của đời mình và tất cả mọi thứ tồn tại. Tôi không muốn nói tới sự trừng phạt thánh thiêng, cũng không thể nói rằng nguy hại mà chúng ta gây ra cho thiên nhiên tự nó đã là án phạt cho sự xúc phạm của chúng ta rồi. Chính thế giới đang phải rên siết trong cảnh nỗi loạn cáu xé. Chúng ta được nhắc nhớ một câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Virgil đã gợi lên “những giọt lệ tạo vật”, sự rủi ro của cuộc đời và lịch sử [33].
     
  4. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều quá vội vã, quên mất những bài học lịch sử, mà là “bậc thầy của cuộc đời” [34]. Một khi cuộc khủng hoảng sức khoẻ này qua đi, thì chắc hẳn phản ứng tệ hại hơn của chúng ta ngày càng lún sâu vào chủ nghĩa thực dụng tựa như cơn sốt, và những loại hình mới mẻ của chủ trương ôm ấp cái tôi. Sau tất cả, nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ không còn nghĩ về “chúng” hay “của chúng” nữa, mà chỉ là “chúng ta”. Điều này có thể minh chứng chỉ khi không còn một thảm kịch lịch sử nào khác, mà từ đó chúng ta vốn chẳng rút ra được bài học nào. Chỉ khi chúng ta nhớ tới những cụ già đã thiệt mạng vì thiếu máy trợ thở, một phần cũng do triệt phá các hệ thống y tế từ năm này sang năm khác. Chỉ khi nỗi đau hằn sâu này không trở thành vô ích, nhưng giúp chúng ta tiến về phía trước, bước tới một lối sống tươi mới hơn. Chỉ khi chúng ta tái khám phá một lần nữa cho tất cả nhũng gì chúng ta cần cho nhau, và như vậy, gia đình nhân loại mới có thể cảm nghiệm được sự tái sinh trên mọi khuôn mặt, đôi tay và trong mọi giọng nói, vượt mọi tường luỹ mà chúng ta đã dựng lên.
     
  5. Trừ phi chúng ta khôi phục lại lòng hăng say chung tay kiến tạo một cộng đồng gắn bó và đoàn kết xứng đáng với thời đại, với nguồn năng lượng, tài nguyên của mình, thì ảo tượng toàn cầu sai lầm sẽ vẫn đạp đổ và bỏ lại người người bơ vơ trong cảnh tượng khốn cùng và trống rỗng. Chúng ta đừng quá ngây ngô phớt lờ đi, mà không chịu nhận ra rằng “thói mê mụi với lối sống thực dụng, và trên hết, một ít người vẫn khư khư giữ nó, thì chỉ dẫn tới bạo lực và huỷ hoại nhau mà thôi” [35]. Khái niệm “mọi người vì mình” sẽ nhanh chóng suy thoái, rơi vào tình trạng miễn phí-cho-tất cả, mà nó cho thấy còn tệ hại hơn bất kỳ đại dịch nào. 
NHÂN PHẨM VẮNG BÓNG GIỮA BIÊN GIỚI CÁC QUỐC GIA  
  1. Các thể chế độc tài chính trị thường hô hào vì nhân dân, như những lối tiếp cận kinh tế cấp tiến, vẫn duy trì chính sách cấm làn sóng di dân nhập cảnh bằng mọi giá. Những luận cứ thường được đưa ra nhằm thực thi quy định phép tắc của việc hạn chế cứu trợ đối với các quốc gia nghèo, ngõ hầu họ có thể bới tận đất đá mà nhận ra mình cần phải áp dụng những khuôn khổ luật lệ hà khắc. Ai đó sẽ không nhận ra đằng sau lời tuyên bố ấy, chỉ toàn là trừu tượng và khó lòng hậu thuẫn, đã khiến vô số mạng sống rơi vào cảnh lâm nguy. Nhiều di dân chạy trốn khỏi chiến tranh, khỏi thiên tai và bách hại. Nhưng thực tế, hầu hết “đi tìm cơ hội cho bản thân và gia đình. Họ mơ ước một tương lai tốt đẹp hơn và họ muốn tạo ra điều kiện để đạt được nó” [36].
     
  2. Đáng buồn thay, một số người “bị văn hoá Tây phương lôi cuốn, đôi khi vì những kỳ vọng hão huyền khiến họ thất vọng ê chề. Bọn buôn người vô lương tâm thường cấu kết với kẻ buôn ma tuý hoặc vũ khí, uy hiếp di dân, là những người đã trải qua quá nhiều cảnh đời bao lực, nạn buôn người, lạm dụng tâm thể lý và mọi gian truân chẳng thể nào kể hết trên suốt chặng đường di tản” [37]. Những người nhập cư ấy “cảm nghiệm tình cảnh rời xa quê hương, cội nguồn, và thông thường cũng dễ mất gốc cả về mặt văn hoá lẫn tôn giáo. Các cộng đồng mà họ bỏ lại đằng sau cảm nhận được sự rạn nứt, mà nó đã lấy mất đi những nhân tố đầy khí chất, dám làm dám chịu của họ, và các gia đình cũng trải nghiệm tương tự, đặc biệt khi một hoặc cả hai bố mẹ đều di cư, bỏ lại con thơ tại quê nhà” [38]. Vì lí do này, “cần phải tái khẳng định quyền không được nhập cư, nghĩa là vẫn bám trụ ở quê cha đất tổ của mình” [39].
     
  3. Tiếp đến, tương tự “tại một số nước chủ nhà, nạn di trú gây ra nỗi hoảng sợ và dóng lên lời cảnh báo, nhưng thường bị xúi giục và lợi dụng vì mục đích chính trị. Điều này có thể dẫn đến não trạng bài ngoại, như thể mọi người khép kín, thu mình lại, và nó cần được nêu ra một cách dứt khoát” [40]. Người di dân không được xem như những công dân đáng có quyền tham gia vào đời sống xã hội, và quên rằng họ cũng sở hữu cùng một phẩm giá nội tại như bất cứ ai. Hơn nữa, họ cần phải là “tác nhân tự giải thoát bản thân” [41]. Chẳng ai công khai phủ nhận họ là con người, nhưng trên thực tế, vì những quyết định và cách đối xử của chúng ta đối với họ cho thấy họ bị coi là thua kém giá trị, kém quan trọng và kém nhân bản. Đối với Ki-tô hữu, đây là lối suy nghĩ và hành động không thể nào chấp nhận được, bởi lẽ nó ưu tiên đặt phương diện chính trị trên cả những niềm xác tín sâu xa của đức tin chúng ta: phẩm giá bất khả chuyển nhượng của mỗi con người, bất luận cội nguồn, sắc tộc hay tôn giáo, và là luật tối thượng của tình mến đệ huynh.
     
  4. “Hơn bao giờ hết, tình trạng di dân sẽ đóng vai trò then chốt trong tương lai của thế giới này” [42]. Tuy nhiên, hiện tại, nạn di dân bị tác động do “hành vi đánh mất cảm thức chịu trách nhiệm cho anh chị em, mà đây chính là nền tảng của mọi xã hội dân sự” [43]. Thí dụ, Châu Âu đã quá liều mạng bước theo lối mòn này. Nhưng “được thừa kế di sản văn hoá vĩ đại và tôn giáo trợ giúp, mà nó sở hữu các phương thế bảo vệ điều cốt lõi của con người, và tìm ra giải pháp cân bằng đúng đắn giữa trách nhiệm luân lý kép nhằm bảo vệ quyền lợi công dân, đồng thời bảo đảm việc trợ giúp và chấp nhận di dân” [44].
     
  5. Tôi nhận thấy rằng một số người rất do dự và e ngại khi nói đến vấn đề di dân. Tôi xem đây là một phần của bản năng tự vệ tự nhiên của họ. Tuy nhiên, cũng đúng khi một cá thể hoặc một dân tộc chỉ đạt kết quả và hiệu suất nếu họ có khả năng phát huy sự cởi mở với người khác một cách sáng tạo. Tôi thỉnh cầu mọi người vượt lên những phản ứng căn bản đó, bởi vì “vấn nạn sẽ tồn tại khi mọi nghi ngờ, sợ hãi ra điều kiện cho chúng ta phải suy nghĩ và hành động đến mức khiến bản thân mình trở nên cố chấp, khép kín, thậm chí có thể thành kẻ phân biệt chủng tộc nếu không nhận ra nó. Do đó, nỗi hoảng sợ cướp đi cơn khát vọng và khả năng kết nối gặp gỡ tha nhân của chúng ta” [45]. 
ẢO TƯỞNG TRUYỀN THÔNG 
  1. Trong lúc thái độ khép kín và cố chấp đối với người khác gia tăng, thì ngược lại, khoảng cách đang thu hẹp dần hoặc biến mất tới mức quyền riêng tư tồn tại chẳng bao nhiêu. Mọi sự đã trở thành cảnh tượng ngoạn mục cần được giám định và xem xét, còn đời sống người dân hiện nay thì luôn bị thám thính. Truyền thông kỹ thuật số muốn đưa mọi sự ra thanh thiên bạch nhật; còn cuộc sống con người bị bắt bớ, bỏ bê, bàn tán nhưng thường là nặc danh. Lòng tôn trọng tha nhân bị nghiền nát, và thậm chí chúng ta còn gạt bỏ, phớt lờ hoặc giữ khoảng cách với người khác, chúng ta chẳng thấy nhục nhã chút nào khi soi mói từng chi tiết của cuộc đời họ.
     
  2. Về phần mình, những cuộc vận động trực tuyến đầy rẫy hận thù và huỷ diệt, không phải là hình thức hậu thuẫn tích cực – như một số người vẫn muốn chúng ta tin – nhưng chúng đơn giản chỉ là một liên hiệp các cá thể hợp nhất chống lại kẻ thù chung theo quan niệm riêng. “Truyền thông kỹ thuật số cũng có thể đẩy người dân vào nguy cơ nghiện ngập, cô lập và mất dần kết nối với thực tại cụ thể, ngăn trở sự thăng tiến của các mối tương quan chân chính giữa con người với nhau” [46]. Chúng thiếu cử chỉ thể lý, biểu cảm khuôn mặt, thời khắc thinh lặng, ngôn ngữ cơ thể và ngay cả chẳng có mùi vị gì, chỉ có đôi tay run run, vòm má ửng hồng hay những giọt mồ hôi mới trực tiếp nói chuyện với chúng ta, và đây là một phần của nền truyền thông nhân bản. Các mối liên hệ trong lĩnh vực kỹ thuật số không đòi hỏi vun xới tiệm tiến tình hữu nghị, cũng chẳng buộc phải tương tác bền lâu, hoặc tạo ra đồng tâm nhất trí chín chắn theo thời gian, hay mang diện mạo xã giao. Song, chúng không thật sự xây dựng cộng đồng; thay vào đó, chúng thường nguỵ tạo và khuếch trương chính chủ nghĩa duy cá nhân vốn được biểu hiện qua thái độ bài ngoại, cũng như xem thường những ai dễ bị tổn thương. Tính liên thông kỹ thuật số không đủ sức bắt cầu kết nối. Nó chẳng thể nào hợp nhất nhân loại được. 
Công kích vô liêm sỉ 
  1. Ngay cả những cá nhân duy trì sự cô lập tiện nghi của chủ nghĩa thực dụng, thì họ vẫn có thể chọn cách cấu kết cuồng nhiệt nhằm kích động lòng hận thù cực độ, hành vi lăng mạ, lạm dụng, phỉ báng và các kiểu bạo hành ngôn từ đến mức huỷ hoại thanh danh người khác do thiếu kiềm chế, trong một diễn biến không thể có trong tiếp xúc thể lý mà kết cuộc lại không xé nát chúng ta ra từng trăm mảnh. Tính công kích xã hội đã tìm được chỗ đứng vô song phát triển qua các phương tiện vi tính và thiết bị di động.
     
  2. Điều này hiện đang cho phép các ý thức hệ được hoàn toàn tự do hành động. Mọi thứ cách đây vài năm không ai có thể nói ra nếu không liều đánh mất lòng tự trọng phổ quát, thì giờ đây có thể nói mà chẳng sợ bị trừng phạt, thậm chí với những từ ngữ thô thiển nhất từ một số nhân vật chính trị. Chúng ta phải ghi nhớ rằng “nhiều lợi nhuận kinh tế khổng lồ đang vận hành trong thế giới kỹ thuật số, có khả năng kiểm soát một cách tinh vi ví như xâm chiếm, đồng thời tạo ra những cơ chế thao túng lương tâm và tiến trình dân chủ. Cách thức hoạt động của nhiều nguyên lý làm cơ sở cho các hệ điều hành này thường nhận kết cuộc bằng việc chiếu cố gặp gỡ những ai suy nghĩ giống nhau, và bảo bọc họ khỏi cuộc tranh biện. Chu trình khép kín này tạo điều kiện phát tán tin tức giả mạo và thông tin sai lạc, cũng như xúi giục thành kiến và hận thù” [47].
     
  3. Chúng ta phải nhìn nhận rằng các hình thức cuồng tín mang tính huỷ hoại đôi khi tìm thấy trong các tín nhân, kể cả Ki-tô hữu; có lẽ họ cũng “bị cuốn vào những mạng lưới bạo hành ngôn ngữ qua internet và các diễn đàn khác của truyền thông kỹ thuật số. Ngay cả trên kênh truyền thông Công giáo, họ cũng vượt rào giới hạn, hành vi phỉ báng và vu khống lại trở nên bình thường như chợ phiên; mặc khác, tất cả tiêu chuẩn đạo đức và tôn trọng thanh danh người khác cũng bị bỏ qua” [48]. Vậy, làm sao có thể góp phần vào việc xây dựng tình huynh đệ mà vị Cha chung đang yêu cầu nơi chúng ta được?  
Thông tin thiếu khôn ngoan 
  1.  Sự khôn ngoan đích thật đòi hỏi một cuộc gặp gỡ với thực tại. Tuy nhiên, ngày nay, mọi thứ được tạo ra, trá hình và sửa đổi. Ngay cả gặp gỡ trực tiếp dù ở ven rìa của thực tại thôi vẫn bị coi là không thể dung thứ. Lúc ấy, một cơ chế lựa chọn bắt đầu vào cuộc, theo đó, tôi có thể lập tức tách biệt người thích khỏi người không ưa, thứ tôi cho là hấp dẫn khỏi thứ mình cho là ghê tởm. Tương tự, chúng ta có thể chọn những người mà mình muốn chia sẻ thế giới riêng của bản thân. Còn tình huống hay người nào mà chúng ta cảm thấy khó chịu hoặc bất đồng đơn giản bị bôi xoá trong các mạng lưới ảo ngày nay; rồi một thế giới ảo được tạo ra, cô lập chúng ta với thế giới thật vốn dĩ chúng ta đang sống trong đó.
     
  2. Khả năng ngồi xuống và lắng nghe người khác, điển hình của những cuộc gặp gỡ giữa người với người, là kiểu mẫu của thái độ chào đón, mà nó được thể hiện qua những ai vượt lên trên tính tự yêu thái quá và chấp nhận tha nhân, quan tâm đến họ, cũng như niềm nở đón chào họ vào cuộc đời mình. Tuy nhiên, “thế giới ngày nay nhìn chung là một thế giới điếc lác…Đôi lúc, bước tiến điên cuồng của thế giới hiện đại ngăn cản chúng ta chăm chú lắng nghe điều người khác đang nói. Giữa chừng, chúng ta đã ngắt lời và muốn nói ngược lại điều họ chưa trình bày xong. Chắc hẳn, chúng ta đánh mất khả năng lắng nghe rồi”. Thánh Phan-xi-cô “đã nghe tiếng Chúa, ngài nghe tiếng người nghèo, tiếng của những ai ốm đau và tiếng của thiên nhiên. Ngài đã đón nhận họ như một lối sống. Tôi mong muốn rằng hạt giống mà Thánh Phan-xi-cô đã gieo trồng sẽ trổ sinh nơi tâm hồn nhiều người” [49].
     
  3. Khi thinh lặng và thận trọng lắng nghe khuất dạng, thay thế bằng sự mê mẫn nhắn tin, thì cấu trúc căn bản này của truyền thông nhân bản khôn ngoan gặp rủi ro. Một lối sống mới nổi lên, trong đó chúng ta chỉ tạo ra những thứ mình muốn và loại tất cả những gì chúng ta chẳng thể nào kiểm soát hoặc biết được ngay tức khắc và hời hợt. Theo luận lý nội tại của nó, quá trình này ngăn chặn một kiểu suy tư thanh thản mà nó có thể đưa chúng ta đến sự khôn ngoan đã được sẻ chia.
     
  4. Cùng nhau, chúng ta có thể tìm kiếm sự thật qua đối thoại, trong cuộc trò chuyện thoải mái và tranh luận sôi nổi. Làm được vậy đòi hỏi tính kiên trì; nó bao hàm những khoảnh khắc im lặng và khổ đau, nhưng có thể nhẫn nại đón nhận cảm nghiệm rộng lớn hơn của từng cá thể và các dân tộc. Thực trạng thông tin tràn ngập trong tầm tay chúng ta chẳng làm nên sự khôn ngoan vĩ đại hơn. Khôn ngoan không phát sinh từ những tìm kiếm nhanh chóng trên mạng internet hay từ một khối dữ liệu chưa được kiểm chứng. Nó chưa đủ chin mùi để biến thành cuộc gặp gỡ với chân lý. Các cuộc trò chuyện chỉ xoay quanh dữ kiện mới nhất; thì chỉ có tính ngang tầm và chất chồng đơn thuần mà thôi. Chúng ta mất tập trung chú tâm, không đi sâu vào cốt lõi vấn đề, và chẳng nhận ra điều gì thiết yếu mang lại ý nghĩa cho cuộc đời chúng ta. Vì thế, tự do biến thành ảo tưởng mà người ta đang rao bán cho chúng ta, một thứ ảo tưởng dễ bị nhầm lẫn với khả năng lục lọi trên internet. Diễn trình xây dựng tình huynh đệ, dù ở địa phương hay phổ quát, cũng chỉ được bảo đảm nhờ tinh thần tự do và cởi mở với mọi cuộc gặp gỡ chân chính. 
HÌNH THỨC LỆ THUỘC VÀ XEM THƯỜNG BẢN THÂN 
  1. Những quốc gia có nền kinh tế thịnh vượng thường được đề cử làm mẫu hình văn hoá cho các nước kém phát triển; thay vào đấy, mỗi quốc gia đó cần được giúp đỡ để tiến triển theo cách riêng biệt, và phát triển năng lực đổi mới trong khi vẫn tôn trọng các giá trị của văn hoá riêng của họ. Ước muốn bắt chước người khác một cách nông cạn và thảm bại dẫn tới việc sao chép và tiêu thụ thay vì sáng tạo, và cổ vũ lòng tự tôn dân tộc thấp kém. Trong các thành phần dư giả tại nhiều nước nghèo, và đôi khi ở những nước vừa mới thoát nghèo, thì tồn tại một đề kháng đối ngược với lối suy nghĩ và hành động bản địa, đồng thời có xu hướng xem thường chính căn tính văn hoá của mình, như thể nó là nguyên nhân chủ yếu cho mọi bất trắc/xấu xa.
     
  2. Huỷ hoại lòng tự trọng là cách dễ dàng để thống trị người khác. Đằng sau những xu thế mang khuynh hướng sang bằng thế giới này, chúng ta thấy chất chứa quá nhiều tư lợi uy lực lợi dụng lòng tự trọng thấp hèn ấy, trong lúc tạo ra một loại văn hoá mới hầu phục vụ cho giới thượng lưu nhờ phương tiện truyền thông cũng như mạng xã hội. Điều này rập khuôn chủ nghĩa cơ hội của những kẻ đầu cơ tích trữ và cướp phá tài chính, còn người nghèo thì luôn nhận kết cục là kẻ thua cuộc. Cũng vậy, tình trạng phớt lờ văn hoá của dân tộc mình đã đẩy nhiều nhà lãnh đạo chính trị đến chỗ bất lực khi phải đưa ra một kế hoạch phát triển hữu hiệu có thể được tự do chấp nhận và duy trì theo thời gian.
     
  3. Chúng ta đã quên rằng “không hình thức tha hoá nào tồi tệ hơn là cảm thấy bản thân bị mất gốc, không thuộc về ai cả. Một lãnh thổ sẽ sinh sổi nảy nở, và dân tộc ấy đơm hoa kết trái, đem lại tương lai, chỉ trong chừng mực họ có thể phát huy cảm thức thuộc về nơi các thành viên của họ, tạo gắn kết hoà nhập giữa các thế hệ, cũng như những cộng đồng khác nhau, và tránh tất cả điều gì khiến chúng ta vô cảm đối với tha nhân, đồng thời dẫn tới việc tha hoá hơn nữa” [50]. 
NIỀM HY VỌNG 
  1. Dù chẳng thể nào phớt lờ đi những đám mây tăm tối này, nhưng tôi mong muốn tiếp nhận và bàn luận nhiều nẻo đường mới của hy vọng qua những trang viết tiếp theo. Vì Thiên Chúa tiếp tục gieo vô vàn hạt giống thiện lành nơi gia đình nhân loại chúng ta. Trận đại dịch gần đây giúp chúng ta nhận ra và đánh giá cao một lần nữa tất cả những ai đang hiện hữu giữa chúng ta, tuy giữa cơn sợ hãi, vẫn đã đối ứng bằng cách đặt mạng sống của họ lên tuyến đầu. Chúng ta đã bắt đầu nhận biết đời sống của mình được đan xen và duy trì nhờ những con người bình thường, nhưng dám can đảm tạo ra các biến cố mang tính quyết định trong lịch sử chung của chúng ta: các bác sĩ, y tá, dược sĩ, thủ kho và nhân viên siêu thị, công nhân giặt ủi, điều dưỡng viên, công nhân vận chuyển, nam giới cũng như nữ giới lao động nhằm cung cấp các dịch vụ thiết yếu và an toàn công cộng, các tình nguyện viên, linh mục và tu sĩ…Họ hiểu rằng không ai được cứu vớt một mình cả [51]. 
Tôi mời gọi mọi người bước vào niềm hy vọng đổi mới, vì hy vọng “truyền đạt cho chúng ta về điều được bén rễ sâu thẳm trong tâm hồn mỗi con người, không lệ thuộc vào các hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của chúng ta. Hy vọng nói cho chúng ta về sự khát khao, nguyện vọng, mong mỏi một cuộc sống viên mãn, ước muốn đạt được những điều lớn lao, chất chứa nơi tâm hồn chúng ta, và chúng nâng cao tinh thần ta lên các thực tại cao cả như chân, thiện, mỹ, công bình và bác ái...Hy vọng rất táo bạo; có lẽ nó nhìn vượt xa tiện lợi cá nhân, tính an toàn và tưởng thưởng nhỏ mọn mà chúng hạn chế tầm hiểu biết của chúng ta, đồng thời nó có thể mở lòng chúng ta ra đón nhận các lý tưởng cao quý vốn làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp và đáng giá hơn” [52]. Vậy, chúng ta hãy tiếp tục cùng nhau tiến bước trên các nẻo đường hy vọng.
 
Chuyển ngữ: Lm. Xuân Hy Vọng
 
CHÚ THÍCH:
[1] Huấn dụ, 6, 1. Ấn bản tiếng Anh theo tác phẩm Francis of Assisi: Early Documents [tạm dịch: Phan-xi-cô Át-si-zi: Các Văn Kiện Sơ Khai], tập 1. New York, London, Manila (1999), 131.
 
[2] Như trên (từ đây viết tắt là nt/Nt), 25: tác phẩm đã trưng dẫn (op.cit., từ đây viết tắt là đtd), 136.
 
[3] Thánh Phan-xi-cô Át-si-zi, Earlier Rule of the Friars Minor (Regula non bullata) [tạm dịch: Luật dòng tiên khởi của Dòng Anh em Hèn mọn], 16:3.6: đtd, 74.
 
[4] Eloi Leclerc, O.F.M., Exil et tendresse [tạm dịch: Cuộc lưu đày và lòng bao dung], do Hội dòng Phansinh biên soạn, Paris, 1962, 205.
 
[5] Văn thư về Tình huynh đệ nhân bản cho Hoà bình Thế giới và Cùng chung sống, Abu Dhabi (4/2/2019): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 4-5/2/2019, tr. 6.
 
[6] Diễn văn tại Hội nghị Đại kết và Đối thoại Liên tôn với Giới trẻ, Skopje, Bắc Ma-cê-đô-ni-a (7/5/2019): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 9/5/2019, tr. 9.
 
[7] Diễn văn tại Quốc hội Âu Châu, Strasbourg (25/11/2014): AAS 106 (2014), 996.
 
[8] Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Đội vệ binh Ngoại giao, Santiago, Chile (16/1/2018): AAS 110 (2018), 256.
 
[9] Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/6/2009), 19: AAS 101 (2009), 655.
 
[10] Tông huấn Hậu thượng Hội đồng Giám mục Christus vivit (25/3/2019), 181.
 
[11] Hồng Y Raúl Silva Henríquez, Bài giảng tại Te Deum, Santiago de Chile (18/9/1974).
 
[12] Thông điệp Laudato Si’ (24/5/2015), 57: AAS 107 (2015), 869.
 
[13] Diễn văn dành cho Phái đoàn Ngoại giao tại Toà Thánh (11/1/2016): AAS 108 (2016), 120.
 
[14] Diễn văn dành cho các Phái bộ Ngoại giao tại Toà Thánh (13/1/2014): AAS 106 (2014), 83-84.
 
[15] x. Diễn văn dành cho Hiệp hội Tổ chức “Kỷ niệm Bách chu niên triều Giáo hoàng” (25/5/2013): Insegnamenti [Giáo huấn] I, 1 (2013), 238.
 
[16] x. Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/3/1967): AAS 59 (1967), 264.
 
[17] Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, Thông điệp Caristas in Veritate (29/6/2009), 22: AAS 101 (2009), 657.
 
[18] Diễn văn dành cho Giới chính quyền Dân sự, Tirana, Albania (21/9/2014): AAS 106 (2014), 773.
 
[19] Sứ điệp dành cho Tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Nhân quyền trong Thế giới Đương đại: Thành quả, Khiếm khuyết bỏ nhỡ, Tiêu cực” (10/12/2018): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 10-11/12/2018, tr. 8.
 
[20] Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 212: AAS 105 (2013), 1108.
 
[21] Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới 2015 (8/12/2014), 3-4: AAS 107 (2015), 69-71.
 
[22] Nt, 5: AAS 107 (2015), 72.
 
[23] Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới 2016 (8/12/2015), 2: AAS 108 (2016), 49.
 
[24] Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới 2020 (8/12/2019), 1: Tờ Quan sát viên Rô-ma, 13/12/2019, tr. 8.
 
[25] Diễn văn về Vũ khí Hạt nhân, Na-ga-sa-ki, Nhật Bản (24/11/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 25-26/11/2019, tr. 6.
 
[26] Đối thoại với Sinh viên và Giảng viên thuộc Đại học San Clarlo tại Mi-lan (6/4/2019): Tờ Quan sát viên Rô-ma, 8-9/4/2019, tr. 6.
 
[27] Văn thư về Tình huynh đệ nhân bản cho Hoà bình Thế giới và Cùng chung sống, Abu Dhabi (4/2/2019): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 4-5/2/2019, tr. 6.
 
[28] Diễn văn nhân dịp Ngày Quốc Tế Văn hoá, Cagliari, Ý (22/9/2013): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 23-24/9/2013, tr. 7.
 
[29] Humana Communitas [Cộng đồng Nhân loại]. Thư gửi Viện trưởng Viện Hàn Lâm Giáo Hoàng về Sự sống nhân dịp kỷ niệm 25 năm Thành lập (6/1/2019), 2.6: Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 16/1/2019, tr. 6-7. 
 
[30] Diễn văn Video dành cho Hội nghị TED tại Vancouver (26/4/2017): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 27/4/2017, tr. 7.
 
[31] Thời khắc Cầu nguyện Ngoại thường trong Đại dịch (27/3/2020): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 29/3/2020, tr. 10.
 
[32] Bài giảng tại Skopje, Bắc Ma-cê-đô-ni-a (7/5/2019): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 8/5/2019, tr. 12.
 
[33] x. Aeneid [tạm dịch: Tiếng Chuông] 1, 462: “Sunt lacrimae rerum et mentem mortalia tangunt” [tạm dịch: “Những giọt lệ của tạo vật và từ đau khổ của con người”].
 
[34] “Historia…magistra vitae” [tạm dịch: “Lịch sử…bậc thầy của cuộc đời”] (Cicero, De Oratore [Nhà hùng biện], 2, 6).
 
[35] Thông điệp Laudato Si’ (24/5/2015), 204: AAS 107 (2015), 928.
 
[36] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus Vivit (25/3/2019), 91.
 
[37] Nt, 92.
 
[38] Nt, 93.
 
[39] Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, Sứ điệp Ngày Di dân và Tị nạn Thế giới 2013 (12/10/2012): AAS 104 (2012), 908.
 
[40] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus Vivit (25/3/2019), 92.
 
[41] Sứ điệp Ngày Di dân-Tị nạn Thế giới 2020 (13/5/2020): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 16/5/2020, tr. 8.
 
[42] Diễn văn dành cho các Phái bộ Ngoại giao tại Toà Thánh (11/1/2016): AAS 108 (2016), 124.
 
[43] Diễn văn dành cho các Phái bộ Ngoại giao tại Toà Thánh (13/1/2014): AAS 106 (2014), 84.
 
[44] Diễn văn dành cho các Phái bộ Ngoại giao tại Toà Thánh (11/1/2016): AAS 108 (2016), 123.
 
[45] Sứ điệp Ngày Di dân-Tị nạn Thế giới 2019 (27/5/2019): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 27-28/5/2019, tr. 8.
 
[46] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christus Vivit (25/3/2019), 88.
 
[47] Nt, 89.
 
[48] Tông huấn Gaudete et Exsultate (19/3/2018), 115.
 
[49] Dựa trên bộ phim Pope Francis: A Man of His Word [tạm dịch: Giáo Hoàng Phan-xi-cô: Người giữ Lời], của tác giả Wim Wenders (2018).
 
[50] Diễn văn dành cho Chính quyền, Xã hội Dân sự và Đội vệ binh Ngoại giao, Tallinn, Es-tô-ni-a (25/9/2018): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 27/9/2018, tr. 7.
 
[51] x. Thời khắc Cầu nguyện Ngoại thường trong Đại dịch (27/3/2020): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 29/3/2020, tr. 10; Sứ điệp Ngày Thế giới dành cho Người nghèo 2020 (13/6/2020), 6: Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 14/6/2020, tr. 8.
 
[52] Diễn văn đón chào Giới trẻ tại Trung tâm Văn hoá Padre Félix Varela, Ha-va-na, Cu-ba (20/9/2015): Tờ Quan sát Viên Rô-ma, 21-22/9/2015, tr. 6.
(Còn tiếp)
Thông tin khác:
|||||
Hãy Đến Vùng Ngoại Biên || Cử Điệu Chính Của ĐHGT Giáo Tỉnh Hà Nội Tại GP Hưng Hóa Năm 2020
Liên kết website
Tiêu điểm
Các điều kiện lãnh Ơn Toàn Xá trong tháng 11 được điều chỉnh
Các điều kiện lãnh Ơn Toàn Xá trong tháng 11 được điều chỉnh
Do đại dịch Covid-19, để đảm bảo các điều kiện an toàn sức khoẻ, Toà Ân giải Tối cao đã ban hành một sắc lệch cho phép việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời có thể được thực hiện trong suốt tháng 11.
Website www.giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log