Thứ ba, 16/07/2024

Đồng hành Khôi Bình tháng 05.2017

Cập nhật lúc 23:22 02/05/2017

Lời chủ chăn tháng 5/2017

Anh chị em thân mến trong đại gia đình giáo phận Hưng Hóa,
Hội Thánh đang sống trong niềm hân hoan bùng vỡ của Tin Mừng Phục Sinh: “Chúa đã sống lại thật ! Alleluia !” Bước sang Tháng 5, niềm vui lại được nhân lên trong bầu khí khắp nơi rộn ràng cử hành Tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ. Trong tháng này chúng tôi xin được cùng anh chị em suy niệm về ý nghĩa đích thực sống Tin Mừng Phục Sinh với hạnh phúc của người Kitô hữu được làm con Đức Mẹ. Ước mong các Kitô hữu nhờ thấu triệt ý nghĩa đó mà đời sống được biến đổi thành chứng nhân của Tin Mừng giữa lòng xã hội, như cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi thời Công vụ Tông đồ.
Trong Mùa Giáng Sinh và Mùa Chay, chúng ta đã suy niệm về lòng thương xót của Thiên Chúa thực hiện qua Mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc. Thiên Chúa vì lòng thương xót loài người đã cho Con Một của Ngài giáng thế đồng hành chia sẻ trọn vẹn thân phận làm người với chúng ta trong mọi sự, kể cả những lao nhọc đau khổ, cho đến tận cái chết trên thập giá. Nhưng cái chết không phải là tận điểm mà Con Thiên Chúa đồng hành chia sẻ với chúng ta. Ngài còn Vượt Qua cái chết và đưa chúng ta cùng vượt qua cái chết để bước vào cuộc sống mới viên mãn với Ngài, như lời Thánh Phaolô nói: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Ngài”(Rm 6, 8).
Kẻ chết sống lại là một ý niệm cực kỳ khó tin, trái với nhận thức thường nghiệm của con người. Thánh Phaolô trên hành trình loan báo Tin Mừng, có lần ngài được trân trọng mời đến thuyết pháp tại nghị trường thành phố Athena (Hy Lạp). Nhưng khi ngài loan báo Đức Giêsu từ cõi chết sống lại, thì cả nghị trường diễu cợt không muốn nghe ngài nói những điều nghịch nhĩ như thế nữa (x. Cv 17, 18 - 34). Cũng trong tâm trạng ấy, các môn đệ và các phụ nữ đạo đức theo giúp việc Chúa dù đã nhiều lần nghe Thầy Giêsu tiên báo Ngài sẽ chịu tử nạn rồi ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, nhưng không ai tin lời Thầy nói. Sau ngày Thứ Sáu Thầy chịu tử nạn thập giá, các vị chỉ còn lại nỗi buồn thương thất vọng ê chề. Thế nên, ngày Thứ Nhất trong tuần, các vị bất ngờ được Đức Giêsu Phục Sinh đến gặp gỡ, tai được nghe giọng nói thân quen của Thầy, được xem tận mắt vết thương chân tay và cạnh sườn Ngài, được sờ tận tay thân xác vị Thầy kính yêu đã bị chết nhừ tử mà nay đã sống lại, các vị mới kinh ngạc và niềm vui Tin Mừng Phục Sinh mới thật sự bùng vỡ. Niềm vui do Thánh Thần của Chúa Phục Sinh tác động mạnh mẽ đến nỗi đã biến đổi các vị thành những con người mới. Các phụ nữ mềm yếu mau nước mắt đã trở nên những người tiên phong hăng hái hớn hở đi loan Tin Mừng Phục Sinh cho chính các tông đồ Chúa. Đến lượt các tông đồ và môn đệ Chúa, trước đây nhút nhát bỏ trốn đi hết khi Thầy lâm nạn, chối Thầy và ẩn núp trong nhà đóng kín cửa vì sợ người Do Thái, nay các ông trở nên can đảm, hiên ngang loan Tin Mừng Phục Sinh công khai ngay giữa đền thờ, mạnh dạn làm chứng Thầy mình đã sống lại trước tòa công nghị, và hân hoan sau khi bị đánh đòn vì xem là mình xứng đáng chịu xỉ nhục vì danh Đức Giêsu. Và nhờ những chứng nhân đầy ắp niềm hứng khởi như thế mà Tin Mừng Phục Sinh được tuôn trào loan truyền khắp nơi. “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra”(Cv 4, 20).
Những chứng nhân tiên khởi ấy quy tụ với nhau thành một cộng đoàn “chỉ có một lòng một ý” có sức lan tỏa nhờ ơn sức của Thánh Thần, nhờ chú tâm cầu nguyện và loan truyền Lời Chúa, cùng nhờ gương sống thương yêu bác ái (x. Cv 5, 23 - 34). Các sách Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng thánh Gioan (x. Gn 19, 25 - 27), và sách Công vụ Tông đồ (x. Cv 1, 12-14) còn vén mở cho chúng ta thấy thấp thoáng một nhân vật quan trọng như linh hồn của cộng đoàn tín hữu ấy. Đó là Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu.
Đức Mẹ được Con Chí Ái của mình, khi hấp hối trên Thánh giá, trối lại cho nhiệm vụ làm Mẹ săn sóc đàn em nhỏ của Anh Cả Giêsu là các con cái Hội Thánh sau này, mà môn đệ Gioan là đại diện (x. Gn 19, 26). Từ ngày đó, Đức Mẹ chỉ còn một lẽ để sống ở thế gian đó là chăm sóc nuôi dưỡng đoàn con cái Hội Thánh, là con thiêng liêng đích thực của Mẹ, ở giai đoạn cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi còn trứng nước trong phạm vi nhỏ hẹp của đất nước Do Thái. Hết giai đoạn ấy, Hội Thánh nên trưởng thành, vươn xa ra các nước trên thế giới, Đức Mẹ đã hoàn thành vai trò khi sống tại thế, như người Mẹ với đoàn con khi còn non dại, đã được Thiên Chúa cất nhắc lên trời cả hồn lẫn xác. Nhưng, sau khi về trời, “Đức Maria vẫn luôn tiếp tục thiên chức làm Mẹ […]. Mẹ vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời. Với tình Mẹ hiền, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang lữ hành trên dương thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách, cho tới khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời”(x. CĐ Vatican II, h.c. GH, s. 62).
Anh chị em thân mến, suy niệm về sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh và về vai trò làm Mẹ nhân loại của Đức Maria dẫn chúng ta đến quy kết thực hành nào trong cuộc sống?
Thứ nhất, mỗi Kitô hữu phải Sống Tin Mừng Phục Sinh như là lẽ sống chính yếu của cuộc đời. Để cảm thấu và thể hiện niềm hân hoan phấn khởi và nhiệt tình loan báo Tin Mừng Chúa Phục Sinh, như các tông đồ xưa, bản thân ta phải gặp được Chúa Phục Sinh trước đã. Ngài đã trở về cõi thần thiêng, hiện diện ở khắp mọi nơi, do đó Ngài luôn sẵn sàng cho ta gặp gỡ Ngài. Nhưng để gặp gỡ được Ngài thì phải theo điều kiện và cách thức Ngài quy định. Các sách Tân Ước chỉ dạy cho biết điều kiện không thể thiếu đó là Đức Tin, tin vào Lời Chúa, chứ không phải tin vào giác quan của mình: “Phúc cho ai không thấy mà tin”(Gn 21, 29). Hai môn đệ đi làng Emmaus đã tin vào Lời Kinh thánh (x. Lc 24, 13-33) khi được nghe chia sẻ cắt nghĩa. Sau đó 2 ông đã nhận ra và gặp được Đức Giêsu trong tiệc Bẻ Bánh (là Bí tích Thánh Thể). Bởi vì cách thức thông thường mà Chúa Phục Sinh quy định đó là tỏ mình qua các dấu chỉ Bí Tích, nhất là Bí tích Thánh Thể. Một cách thức khác Chúa Phục Sinh quy định, đó là tỏ mình ra nơi cộng đoàn tín hữu. Tông đồ Tôma chỉ gặp được Đức Giêsu khi trở về với cộng đoàn anh em (Gn 20, 24-29). Vậy ngày nay, muốn gặp được Chúa, ta phải năng đến họp mặt với cộng đoàn giáo xứ, nhất là vào ngày Chủ Nhật. Tại nhà thờ ta được nghe Lời Chúa và chia sẻ, cùng cử hành Bí tích Thánh Thể.
Thứ hai, ta phải làm gì để được hạnh phúc cảm nghiệm tình Hiền Mẫu của Mẹ Maria? Nếu “trên đời này không ai tốt bằng mẹ”, thì người Kitô hữu còn có người Mẹ thiêng liêng tốt tới siêu đẳng. Ai càng hết mình tôn sùng yêu mến Mẹ trên trời và sống hiếu thảo với Mẹ, thì càng nhận thức và cảm nghiệm được điều đó. Lần kia, Thánh Anphongsô thực lòng tỏ bày tâm sự với Đức Mẹ rằng: “ Mẹ ơi, con mến Mẹ lắm lắm, Mẹ chẳng yêu con bằng con mến Mẹ đâu.” Tức khắc Đức Mẹ hiện đến nói lời trách yêu làm cho thánh nhân cảm nhận hạnh phúc vô vàn: “Anphongsô con ơi, con nói gì ngu dại vậy? Mẹ yêu con gấp trăm ngàn lần con yêu Mẹ!” Tuy nhiên, theo lời Công đồng Vatican II nhắc bảo, “các tín hữu hãy nhớ rằng, lòng tôn sùng chân chính đối với Mẹ không hệ tại tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ” (x. h.c. GH, s. 67).
Đức Mẹ thánh thiện toàn diện, mỗi người con cái Mẹ chỉ có thể cố gắng noi gương Mẹ ở mức độ nào đó và về một số phương diện nào mà thôi. Tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ nằm trọn trong Mùa Phục Sinh, do đó chúng tôi xin mời gọi anh chị em noi gương bắt chước Mẹ về phương diện “sống Tin Mừng Phục Sinh.” Từ khi Mẹ được gặp Chúa Con phục sinh, trót cả suy nghĩ tâm tình và hành động của Mẹ chỉ tập chú vào cuộc sống mai hậu trên thiên quốc, nơi Con Chí Thánh của Mẹ ngự trị và đang chờ đợi Mẹ cùng lên ngự trị với Con. Mẹ nóng lòng mong đợi hoàn thành sứ mạng Thiên Chúa trao cho Mẹ dưới trần thế để được về quê trời. Chúng ta là con cái cũng phải noi gương Mẹ mình sống siêu thoát như thế, như lời Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất”(Cl 3,1-2). Điều mà câu Lời Chúa muốn dạy bảo ta thực hiện, không phải là sống ảo tưởng xa lánh thực tại, nhưng biết siêu thoát không bám vào những giá trị trần thế, biết xử dụng những thực tại đó chỉ như là phương tiện để tập chú vào mục đích mai hậu trên trời. Noi gương Mẹ, ta không ngại hy sinh thời giờ, tiền của, công sức, vượt qua gian khổ để hoàn thành sứ vụ Chúa trao phó nơi trần thế. Sứ vụ Chúa trao gồm có bổn phận đối với gia đình và xã hội, công tác bác ái tông đồ xây dựng cộng đoàn Dân Chúa tại thế, góp phần xây dựng “trời mới đất mới”, hầu chóng tới ngày Nước Chúa hiển trị thành toàn. Ta cố gắng chu toàn các sứ vụ đó, không trông mong gì đền đáp nơi trần thế, chỉ mong hoàn thành nhiệm vụ của người tôi tớ trung thành để được ân thưởng trên quê trời. Với cách hành xử siêu thoát như vậy, mọi người sẽ nhận thấy đời sống của ta luôn thanh thản vui tươi trong mọi hoàn cảnh, phản ánh Tin Mừng Phục Sinh ta mang tràn đầy trong tâm. 
Anh chị em thân mến,
Chúng tôi nguyện cầu trong Tháng Hoa dâng kính Mẹ này, chúng tôi cùng với anh chị em được ơn sức noi gương Đức Mẹ sống tràn đầy ý nghĩa Tin Mừng Phục Sinh, nhờ đó con người chúng ta được biến đổi thành chứng nhân của Tin Mừng giữa lòng xã hội. Và cũng nhờ đó chúng ta được hạnh phúc làm con cái đích thực của Mẹ trên trời, vì “Mẹ nào con nấy.”
 
Sơn Tây, ngày 30 tháng 4 năm 2017
Gioan Maria Vũ Tất, Giám mục Giáo phận Hưng Hóa
An-phong Nguyễn Hữu Long, Giám mục Phụ tá
 
 
                                                                                                                      
Lá thư Đồng hành: Nhớ ngày Hiền mẫu

Anh chị em Khôi Bình thân mến,
Tháng Năm, ngoài người Mẹ trên trời là Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta còn được mời gọi nhớ đến những người mẹ trần thế đã cưu mang, sinh thành, dưỡng dục chúng ta trong cuộc sống làm người. “Ngày hiền mẫu” hay “Ngày người mẹ” trong Tháng Năm đưa chúng ta về với chữ hiếu là chữ của phận làm con đối với mẹ của mình. Nếu may mắn mẹ còn sống, con cái trong cuộc sống vừa chu toàn bổn phận hiếu thảo chăm lo, vừa thể hiện tình cảm yêu thương gắn bó. Có chăm lo nên mới gắn bó, và càng gắn bó càng biết chăm lo đúng mức hơn. Vẫn biết trong xã hội, chuyện “Mẹ nuôi con vất vả tháng ngày không kể hết, nhưng khi già con cái không báo hiếu lại kể lể, lại quên ơn” là chuyện gặp thấy nhan nhản đó đây, hoặc cảnh “Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày” thường được báo chí kể lại; nhưng người Công giáo, cách riêng là các Khôi Bình viên, ngoài việc chu toàn bổn phận làm người, còn phải vuông tròn giới răn của Chúa là thảo kính cha mẹ, nghĩa là biết hiếu kính và phụng dưỡng mẹ mình cho đúng với đạo làm con. Nếu không may mẹ khuất, con cái sẽ cài lên tim mình bông hồng trắng để nhắc nhớ bổn phận báo hiếu là cầu nguyện cho người đã khuất được lòng Chúa thương xót sớm cho hưởng hạnh phúc thiên đàng.
Cùng với Hiền mẫu riêng của mỗi người, Tháng Năm còn là dịp để nhớ đến một đối tượng rộng lớn hơn là tất cả mọi người nữ đang âm thầm chu toàn phận vụ gia đình hoặc đang nỗ lực hiến dâng đời sống phục vụ xã hội. Một cách nào đó, họ cũng là những hiền mẫu chung của cả nhân loại, biết hy sinh hạnh phúc riêng để cùng với mọi người kiến tạo một hạnh phúc chung cho cộng đồng nhân loại hay xa hơn, biết góp phần của mình vào công trình chung cho Nước Trời mai hậu hay “cho vinh danh Chúa hơn.”
Chính trong ý hướng này, xin anh chị em cầu nguyện cho người phụ nữ ở mọi quốc gia trên thế giới được tôn trọng, nhìn nhận và đề cao, vì những đóng góp thiết yếu của họ cho xã hội.
Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn
LMĐHKB. Hưng Hoá
 
I. CHIA SẺ LỜI CHÚA: CHỦ NHẬT IV PHỤC SINH
Cv 2,14a. 36-41; 1 Pr 2, 20-25; Ga 10,1-10

 
Chúng ta đã quen với hình ảnh Đức Giêsu là người mục tử. Qua Thánh vịnh 22, chúng ta thấy dân Do thái trong thời Cựu ước cũng đã quan niệm Chúa mình như là người mục tử dẫn dắt đoàn chiên. Nhưng trong bài Tin mừng hôm nay, bên cạnh hình ảnh người mục tử, còn có hình ảnh cái cửa mà ít khi chúng ta chú ý. Đức Giêsu nói: "Cửa ràn chiên chính là Ta. Bao nhiêu kẻ đã đến trước Ta, hết thảy đều là trộn cướp, nhưng chiên đã không nghe chúng. Cửa vào chính là Ta ! Ai ngang qua Ta mà vào thì sẽ được cứu. Nó sẽ vào, sẽ ra và gặp được lương thực" (Ga 10, 7- 9). Qua hình ảnh cái cửa, Chúa Giêsu muốn nói gì ?
Trước hết chúng ta nên nhớ đây là một cuộc đối chất với những người Biệt phái. Vì là những người có học thức, thông thạo lề luật nên những người này tự cho mình là những người hướng dẫn quần chúng. Khi thấy mọi người chạy đến với Chúa Giêsu và thích nghe Người giảng dạy, thì họ đâm ra bực tức, ghen tương. Họ cảm thấy mất hết ảnh hưởng. Vì thế, Chúa Giêsu kể dụ ngôn người mục tử và cái cửa ràn chiên để xác định vai trò của Người. Dân Israel được ví như một đàn chiên, được Thiên Chúa quy tụ lại trong một cái ràn, một cái chuồng có những then chắn che chở. Các then chắn là Lề luật. Nhưng để đi từ ràn chiên vào đồng cỏ rộng rãi xanh tươi, thì các con chiên nhất thiết phải đi qua một cái cửa. Cái cửa ấy, chính là Chúa Giêsu.
Qua hình ảnh ấy, Chúa Giêsu muốn khẳng định Người là phương thế cứu rỗi mà Thiên Chúa đã thiết lập để đưa dân Israel, từ hoàn cảnh chật chội của ràn chiên, nghĩa là từ hoàn cảnh gò bó của Lề luật, đến thể chế ân sủng của Nước Trời. Ai ngang qua Người mà đi, thì sẽ tìm được "lương thực": lương thực ấy là lời mặc khải, "bánh trường sinh" mà có lần Đức Giêsu cũng đã nói với những người Do thái ở Capharnaum sau phép lạ hóa bánh ra nhiều (Ga 6, 35); lương thực ấy cũng là "nước trường sinh" mà Đức Giêsu cũng đã mặc khải cho người phụ nữ Samaria (4,14). Nói cách khác, qua hình ảnh "cái cửa", Chúa Giêsu khẳng định Người là trung gian duy nhất đưa người ta đến với Thiên Chúa.
Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu nói rõ thêm vai trò của Người cho các tông đồ hiểu: "Ta là Đường, là Sự thật, là Sự sống. Không ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta" (Ga 14, 6). Người là Đường, để chúng ta đi tới với Chúa Cha; Người là Sự thật, vì Người mặc khải Chúa Cha; Người là Sự sống, vì Người chuyển thông sự sống đời đời từ Chúa Cha. Người nói: "Ta đến để các con chiên được sống và sống dồi dào." Sự sống mà Người nói đây, không phải là sự sống ở trần gian với sức khỏe, với sắc đẹp, với của cải, mặc dầu sự sống ở trần gian cũng là một kho tàng quý báu. Sự sống mà Người mang lại cho ta là sự sống đời đời trong Nước Trời, một cuộc sống trong tình yêu với Thiên Chúa là Cha chúng ta và với tất cả mọi anh chị em chúng ta. Và chỉ có Đức Giêsu là cái cửa duy nhất để chúng ta đi vào thế giới sự sống ấy. Người còn nói: "Những kẻ đến trước Ta đều là trộm cướp."  "Những kẻ đến trước" ở đây không phải là các ngôn sứ mà chính Thiên Chúa đã gửi đến để dọn đường cho Con của Người, nhưng là những người tại Do thái hay tại chỗ này chỗ kia trong thế giới, cho rằng, với sức lực riêng của họ, có thể mang lại sự hiểu biết về thế giới thần linh và đưa loài người tới ơn cứu rỗi. Một lần nữa Đức Giêsu khẳng định, với tư cách là Con, Người là trung gian duy nhất đưa chúng ta đến với Chúa Cha.
Từ lời khẳng định của Đức Giêsu là Cửa vào, chúng ta thử xét mình lại, chúng ta có xem Đức Giêsu là trung gian duy nhất, là vị Thầy duy nhất, là người hướng dẫn duy nhất đưa chúng ta đến ơn cứu rỗi hay không. Có một số người cho rằng đạo nào cũng như đạo nào, miễn là người ta ăn ngay ở lành, lương thiện và chân thành là sẽ được cứu rỗi. Những người ấy chưa hiểu ơn cứu rỗi là gì và đâu là phương thế đưa chúng ta tới ơn cứu rỗi ấy. Sở dĩ chúng ta sống được lương thiện và chân thành, cũng là do ơn của Thiên Chúa được ban xuống cho chúng ta qua trung gian của Đức Kitô. Cho nên, mặc dầu chúng ta tôn kính các bậc vĩ nhân trong thế giới và tôn trọng niềm tin của những tín đồ thuộc các tôn giáo khác, nhưng chúng ta không bao giờ được quên là chỉ một mình Đức Kitô là "Cửa" duy nhất để chúng ta đi vào thế giới sự sống.
Hình ảnh cái cửa còn gợi lại cho chúng ta thái độ đón tiếp của Đức Giêsu. Người đón tiếp tất cả mọi người, nam cũng như nữ, đặc biệt Người đón tiếp những người mà xã hội khinh dể, ruồng bỏ, mục đích là để đưa tất cả mọi người đến với ơn tha thứ của Thiên Chúa. Chúng ta hãy tự xét mình xem mỗi người chúng ta có phải là một cái cửa rộng mở để đón tiếp anh chị em chúng ta hay không. Chúng ta có sẵn sàng lắng nghe những nguyện vọng cũng như những nỗi đau khổ, ưu phiền của anh chị em chúng ta hay không để giúp họ tìm gặp được thánh ý Chúa?
Chúa Kitô hiện diện giữa chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Chúng ta hãy đến với Người trong niềm tin kính vững chắc Người là cái cửa duy nhất đưa chúng ta đến với Chúa Cha, đến với nguồn mạch của sự sống, của Tình yêu, của nguồn hạnh phúc vĩnh cửu; rồi chúng ta cũng xin Người biến đổi chúng ta thành những tông đồ nhiệt thành luôn luôn sẵn sàng đón tiếp mọi người và chuyển thông niềm hy vọng cho họ.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
  1. Anh chị cảm nghiệm như thế nào về tình yêu thương và sự dẫn dắt của Chúa ngang qua những biến cố lớn nhỏ trong cuộc đời của anh chị?
  2. Hình ảnh vị mục tử nhân lành sống hết mình cho đoàn chiên gợi ý cho anh chị cách cư xử như thế nào đối với tha nhân, trong cương vị là cha mẹ, thầy cô; y bác sĩ, hoặc trong nghề nghiệp của anh chị?
II. VIỆC CHUẨN BỊ HÔN NHÂN DÀNH CHO GIỚI TRẺ (tiếp theo)
CHUẨN  BỊ CẤP THỜI
Việc chuẩn bị cấp thời phải được tổ chức ngay trước hôn nhân, như Tông huấn đã nói: “Việc chuẩn bị liền trước cuộc cử hành bí tích phải diễn ra trong nhiều tháng và nhất là trong những tuần cuối trước lễ cưới để nhờ đó có thể đem lại được một ý nghĩa mới, một nội dung mới và một hình thức mới cho việc quen gọi là điều tra hôn phối mà giáo luật đòi buộc” (FC 66).
Việc chuẩn bị này cũng nhằm tới hai khía cạnh:
1. Giáo dục nhân bản
Mặc dù Tông huấn không đề cập tới, nhưng từ xưa cho đến nay, những bạn trẻ sắp sửa đưa nhau đi trình diện thường có một số việc cần phải làm ngay, để cuộc hôn nhân được tốt đẹp và được bảo đảm về lâu về dài. Những việc ấy như sau: Suy nghĩ và cầu nguyện; bàn hỏi với những người đạo đức, có kinh nghiệm và có bổn phận hướng dẫn; tìm hiểu lẫn nhau; và sống trong sạch.
2. Giáo dục đạo đức
Trong thời gian này, việc giáo dục đạo đức đã được Tông huấn gợi ý: “Trong số các yếu tố phải truyền đạt trong tiến trình đức tin này, tựa như ở thời kỳ dự tòng, cũng phải có việc đào sâu về mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội Thánh, về ý nghĩa của ân sủng và của trách nhiệm gắn liền với hôn nhân Kitô giáo, đó là chưa kể tới việc chuẩn bị để tham dự tích cực vào nghi lễ phụng vụ hôn phối” (FC 66).
Từ lời gợi ý trên, chúng ta rút ra được bốn việc chính yếu:
- Đào sâu mầu nhiệm Đức Kitô và Hội Thánh. Như chúng ta đã biết hôn nhân là một định chế được Thiên Chúa ấn định cho xã hội loài người ngay từ thuở ban đầu. Rồi sau đó, đã được Chúa Giêsu nâng lên hàng bí tích. Kể từ nay, hôn nhân không phải chỉ là sợi dây tình yêu nối kết hai người thành vợ thành chồng, mà hơn thế nữa, còn là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu của Đức Kitô đối với Hội thánh như lời thánh Phaolô đã nói: Mầu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói đến sự kết hiệp giữa Đức Kitô và Hội Thánh.
Vì vậy mà: Người làm vợ hãy phục tùng chồng như phục tùng Chúa vì chồng là đầu của vợ, cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh. Đồng thời người làm chồng cũng phải: Hãy yêu thương vợ như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. Và như thế sống tình nghĩa vợ chồng cũng là sống màu nhiệm kết hiệp giữa Đức Kitô và Hội Thánh vậy.
- Ý nghĩa của Ân sủng. Theo thánh Phaolô diễn tả, trước kia chúng ta chỉ là những cành cây dại, nhưng kể từ khi được ghép vào với Đức Kitô, một dòng nhựa mới được truyền sang cho chúng ta. Dòng nhựa mới ấy chính là sự sống của Thiên Chúa, hay nói cách khác, đó là ân sủng của Thiên Chúa, nhờ đó hoa trái cuộc đời chúng ta sẽ là một thứ hoa trái mới, thơm ngon và đậm đà, xứng đáng được đón nhận vào quê hương Nước Trời.
- Trách nhiệm của hôn nhân Kitô giáo. Phàm đã là người, khi làm bất cứ việc gì, từ việc nhớn đến việc nhỏ, thì đều theo đuổi một mục đích nào đó, huống lọ là việc trăm năm đại sự. Và như chúng ta cũng đã biết, hôn nhân có hai mục đích, đó là sinh sản con cái và giúp đỡ lẫn nhau.Từ hai mục đích này, chúng ta thấy những người bước vào cuộc sống hôn nhân phải gánh vác hai trách nhiệm, đó là trách nhiệm của cha mẹ và trách nhiệm của vợ chồng.
Trước hết là trách nhiệm của cha mẹ. Cha mẹ có bổn phận phải sinh sản con cái, như lời Chúa đã phán: Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều đầy mặt đất. Trong khi sinh sản con cái, chúng ta cộng tác với Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo, làm nên những con người mới, để kéo dài sự hiện diện của nhân loại trong giòng thời gian mà ca tụng Thiên Chúa. Công đồng Vaticanô II đã viết như sau: “Trong khi thi hành bổn phận sinh sản và giáo dục, họ biết rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa tạo hóa và trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài. Bởi vậy, họ sẽ chu toàn bổn phận mình với trách nhiệm của con người và của con người Kitô…Trong cách thế hành động, vợ chồng Kitô hữu hãy ý thức là mình không thể làm theo sở thích, nhưng phải luôn luôn theo tiếng nói của một lương tâm, được khuôn đúc theo luật Chúa, hãy vâng phục giáo huấn của Giáo Hội, vì Giáo Hội có thẩm quyền giải thích luật Chúa dưới ánh sáng Phúc âm” (GS 50).
Tuy nhiên sinh sản mà thôi cũng chưa đủ, bổn phận thứ hai là phải nuôi dưỡng con cái, nghĩa là cho con cái ăn mặc đầy đủ, đau yếu lo tìm thày chạy thuốc… Và nuôi dưỡng mà thôi chưa đủ, vì sinh con không giống như sinh vật. Nuôi một con lợn, chúng ta chỉ cần đổ cám cho nó ăn là đủ, nhưng với con cái thì khác. Nuôi dưỡng đã đành, mà còn phải giáo dục con cái nữa, vì như tục ngữ đã bảo:
Sinh con chẳng dạy chẳng răn,
Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy lòng.
Tiếp đến là trách nhiệm của vợ chồng. Vợ chồng có bốn bổn phận, đó là phải yêu thương, hòa thuận, trung thành và giúp đỡ lẫn nhau. Muốn được như vậy, vợ chồng phải biết nhường nhịn và tha thứ, dám chấp nhận những hy sinh cho nhau và vì nhau, nhờ đó mà trọn đời yêu thương và trung thành cùng nhau.
- Tham dự tích cực vào nghỉ lễ phụng vụ hôn phối. Hôn nhân Kitô giáo đòi hỏi phải theo luật cử hành phụng vụ, để diễn tả tính cách xã hội và cộng đồng, nơi bản chất Hội Thánh và bí tích của khế ước hôn nhân giữa hai người đã rửa tội, vì thế Tông huấn đã đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể sau đây:
- Là một hành vi bí tích để thánh hóa, việc cử hành hôn phối phải được đưa vào phụng vụ, nhưng đồng thời phải đơn giản và xứng đáng, hoàn toàn theo đúng những qui tắc mà thẩm quyền Giáo hội đã đề xướng.
- Là một dấu chỉ của giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh, việc cử hành hôn phối phải diễn ra thế nào để có thể kết thành một sự công bố Lời Chúa và một sự tuyên xưng đức tin của cộng đồng các tín hữu. Thời gian thích hợp nhất vẫn là lúc cử hành Thánh lễ, bởi vì giữa bí tích Thánh thể và bí tích Hôn phối có một liên hệ mật thiết: Bí tích Thánh thể vừa là sự hiện diện đích thực, lại vừa là dấu chỉ tình yêu của Đức Kitô, còn bí tích Hôn nhân dẫn đưa hai vợ chồng vào trong tình yêu ấy và làm cho họ có khả năng tiếp tục sự trao hiến của Đức Kitô trong cuộc sống của mình. Như vậy, Phụng vụ vừa mang tính chất loan báo Tin mừng, bởi vì rao truyền ngay trong Hội Thánh tin mừng về tình yêu hôn nhân như là dấu chỉ của Đức Kitô và Hội Thánh, đồng thời cũng mang tính chất Giáo hội vì ảnh hưởng đến cả cộng đồng nơi vợ chồng sinh sống.
- Là một hành vi bí tích của Hội Thánh, việc cử hành hôn phối phải lôi cuốn được cả cộng đoàn với sự tham dự trọn vẹn, tích cực và có trách nhiệm của mọi người đang hiện diện, tùy theo vai trò của mình, như đôi bạn, linh mục, nhân chứng, cha mẹ, bạn hữu…nói tắt là mọi thành phần của một cộng đoàn đang biểu lộ và sống mầu nhiệm Đức Kitô và Hội Thánh Ngài.
Sau cùng, Đức Thánh Cha mong muốn các Hội Đồng giám Mục sớm công bố “Tập chỉ nam mục vụ gia đình” để hướng dẫn cho việc chuẩn bị nói trên.
Tông Huấn viết: “Ước mong rằng các Hội Đồng Giám Mục lưu tâm tới các sáng kiến thích hợp để giúp các vợ chồng tương lai biết ý thức hơn rằng việc chọn lựa của họ hệ trọng biết bao, cũng như để giúp cho các vị chủ chăn biết bảo đảm cho những người ấy có được những dự kiện cần thiết. Và với sự lưu tâm đó, các Hội Đồng Giám Mục sẽ xả thân làm việc, để sớm công bố được “Tập chỉ nam mục vụ gia đình. Trong cuốn chỉ nam này, trước hết sẽ phải xác định những yếu tố cần thiết không thể thiếu được về nội dung, về thời lượng và về phương pháp của các “khóa chuẩn bị”, tạo quân bình cho những khía cạnh khác nhau có liên hệ tới hôn nhân – như giáo lý, sư phạm, luật pháp, y học – và xếp đặt thế nào để giúp cho những người sắp lập gia đình, không những chỉ được đào sâu thêm về hiểu biết, mà còn cảm thấy được thúc đẩy để hội nhập một cách tích cực vào trong cộng đồng Hội Thánh” (FC 66).
KẾT LUẬN
Mặc dù được trình bày một cách vắn gọn, nhưng Tông huấn đã đưa ra một chương trình cụ thể cho việc chuẩn bị hôn nhân. Chương trình này không phải chỉ rảo qua đôi ba tháng của một khóa giáo lý, nhưng phải được kéo dài qua nhiều năm nhiều tháng, khởi đi từ thời thơ ấu cho đến lúc cử hành hôn phối, chính thức bước vào cuộc sống lứa đôi. Hơn thế nữa, Tông huấn còn đưa ra một đường hướng mục vụ sau khi cưới, nhất là cho những cặp vợ chồng đang gặp phải khó khăn…
Để kết luận, xin ghi lại nơi đây nhận xét của Thánh Gioan Phaolô II: “Kinh nghiệm cho thấy được rằng, các bạn trẻ được chuẩn bị chu đáo cho đời sống gia đình, cách chung sẽ thành công hơn các bạn khác” (CF 66).

 
Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn
LMĐHKB. Hưng Hoá
 
Thông tin khác:




Thánh lễ Truyền Chức Giám Mục Đaminh Hoàng Minh Tiến tại nhà thờ Chính toà Sơn Lộc | 14.02.2022
Liên kết website
Tiêu điểm
Website www.giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log