Thứ bẩy, 08/08/2020

Giáo trình Giáo lý dự tòng dựa theo tiến trình lịch sử Mạc Khải.

Cập nhật lúc 07:37 30/01/2015
GIÁO TRÌNH
GIÁO LÝ DỰ TÒNG
DỰA THEO TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ MẠC KHẢI


Thứ tự các bài

 Lời Giới Thiệu
 PHẦN I
DẪN NHẬP
 Bài 1: Đi Đạo Để Làm Gì?
Bài 2: Có Thiên Chúa Không?
Bài 3:Ta Có Thể Gặp Được Thiên Chúa Không?
Bài 4: Thiên Chúa Có Tỏ Mình Cho Loài Người Không? 
 PHẦN II
CHUẨN BỊ ƠN CỨU ĐỘ
 Bài 5: Các Tổ Phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác,  Gia-cóp và  Giuse
Bài 6: Ngôn Sứ Mô-Sê Và Hành Trình  Xuất Ai-Cập
Bài 7: Thiên Chúa Mạc Khải Cho Mô-Sê Bài 8: Giao Ước Xi-Nai Bài 9: Dân Chúa Về Đất Hứa, Định Cư Và  Lập Quốc
Bài 8: Giao Ước Xi-nai
Bài 9: Dân Chúa Về Đất Hứa, Định Cư Và Lập Quốc.

Bài 10: Vai Trò Của Các Ngôn Sứ Thời Các Vua
Bài 11:Dân Tộc Mang Lời Hứa  Đấng Cứu Thế
PHẦN III
THỰC THI ƠN CỨU ĐỘ
Bài 12: Con Thiên Chúa  Xuống Thế  Làm Người
Bài 13: Đời Sống  Ẩn Dật Và Công Khai Của Đức Giêsu
Bài 14: Đức Giêsu Kitô Mạc Khải Trọn Vẹn Của Thiên Chúa Cha Và Mầu Nhiệm Một  Thiên Chúa Ba Ngôi 
Bài 15: Đức Giêsu Tử Nạn,  Phục Sinh, Lên Trời Và Trao Sứ Mệnh Cho Hội Thánh
 PHẦN IV
TRIỂN KHAI ƠN CỨU ĐỘ QUA MỌI THỜI ĐẠI
Bài 16: Chúa Giêsu Tiếp Tục Chương Trình Cứu Độ Qua Hội Thánh  Là Bí Tích Cứu Độ Phổ Quát Của Ngài 
Bài 17: Hội Thánh Được Chuyển Giao Lời M.K. Cựu Ước
Bài 18: Chúa Giêsu Trao Cho Hội Thánh Lời Mạc Khải Tân Ước
Bài 19: Chúa Giêsu Trao Cho Hội Thánh Bảy Phép Bí Tích
Bài 20: Ba Bí Tích Khai Tâm Kitô Giáo
Bài 21: Các Bí Tích Thánh Hoá Đời Sống Cá Nhân Và Cộng Đoàn
Bài 22: Sinh Hoạt Của Hội Thánh Trong Thế Giới Bài 23: Lịch Sử  Hơn 2000 Năm Của Hội Thánh
Bài 23: Lịch Sử Hơn 2000 Năm Của Hội Thánh
Bài 24: Hội Thánh Hướng Về Trời Mới-Đất Mới
PHỤ LỤC
 ***********************
 
Lời giới thiệu
 
Ngày 11-10-1992 Đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II ra Tông Hiến “FIDEI DEPOSITUM” ban hành “Sách Giáo Lý Hội Thánh  Công Giáo”, trong đó ngài chỉ dẫn các Giáo Hội địa phương phải soạn thảo các giáo trình dạy giáo lý cho phù hợp với lứa tuổi, trình độ và nề nếp văn hoá của dân bản địa.* Tập giáo trình Giáo Lý Dự Tòng này được soạn thảo theo chỉ dẫn đó.
Sau đây là những nét khái quát đặc trưng cho giáo trình này.
1. Đối tượng
Giáo trình này nhằm giới thiệu một dàn ý giúp các giáo lý viên dạy cho dự tòng là những người lương dân tuổi trưởng thành muốn tìm hiểu và tin theo Kitô Giáo.
Thiết tưởng giáo trình này cũng rất bổ ích, giúp các Kitô hữu mở rộng kiến thức giáo lý.
Chúng tôi giả thiết là các giáo lý viên này đã có kiến thức sơ lược về Kinh Thánh, lịch sử cứu độ và có trình độ giáo lý trung cấp cho Kitô hữu trưởng thành.
2. Mục đích ý nghĩa
Giáo trình nhằm giới thiệu tổng quát về nội dung sứ điệp Kitô Giáo, về nguyên lai, mục đích, ý nghĩa của việc đi Đạo để cho những người dự tòng nắm vững và sẵn sàng tin theo. Đây là giai đoạn KERYGMA (truyền giảng ban đầu) của tiến trình truyền giảng Tin Mừng.
3. Tính chất đặc điểm
Giáo trình này vắn tắt, vì chưa đi sâu vào chi tiết (phần chi tiết dành cho giáo lý tân tòng) mà chỉ cung cấp những nét tổng quát của kho tàng giáo lý cho dự tòng, nhưng có đầu có đuôi, từ nguyên lai cho tới mục đích. Cụ thể khóa giáo lý này sẽ giúp học viên  nắm sơ lược lịch sử cứu độ từ khai nguyên vũ trụ đến ngày cánh chung.
4. Phương pháp riêng biệt
Phương pháp sư phạm của giáo trình Giáo Lý Dự Tòng này dựa theo tiến trình sư phạm của Thiên Chúa. Cụ thể, theo tiến trình lịch sử Mạc Khải: những gì Thiên Chúa mạc khải trước ta  trình bày trước, những gì mạc khải sau ta trình bày sau; đi từ Mạc Khải tự nhiên đến Mạc Khải siêu nhiên; phần mạc khải siêu nhiên đi từ Mạc Khải Cựu Ước đến Mạc Khải Tân Ước; đi từ dễ đến khó, tạo điều kiện dẫn dắt đức tin của người dự tòng trưởng thành lên. Đặc biệt là từ từ dẫn học viên đi vào mối tương giao liên vị với Thiên Chúa, hoà nhập vào liên hệ giao ước với Ngài, đồng hành với Dân Chúa từ Cựu Ước đến Tân Ước.
5. Giới hạn của giáo trình
Giáo trình này không cầu toàn về kiến thức giáo lý đến từng chi tiết. Kiến thức giáo lý cũng không trình bày xếp đặt có thứ tự riêng biệt phần Đức tin, phần Bí tích, phần Giới luật như trong sách giáo lý hệ thống. Do đó, sau khi người dự tòng lĩnh Bí tích khai tâm phải bổ túc cho họ ngay phần giáo lý tân tòng của giai đoạn DIDASCALIA (huấn giáo) trong tiến trình truyền giảng Tin Mừng.
Mặt khác, đối với giảng viên giáo lý, đây không phải là những bài giáo án soạn sẵn mà chỉ là dàn ý, là bộ khung sườn dựa vào đó giảng viên triển khai thêm bớt, để soạn ra giáo án phù hợp với từng đối tượng học viên cụ thể.
6. Thuận lợi
Giáo trình này đi theo tiến trình lịch sử Mạc Khải như một câu chuyện diễn tiến liên tục nên hấp dẫn học viên từ đầu chí cuối. Những phần giáo thuyết về tín lý hay luân lý được đan xen với diễn tiến những câu chuyện lịch sử cứu độ. Do đó, học viên dễ tiếp nhận vì biết nguyên lai, lý do, mục đích của những giáo thuyết đó. Về ngôn ngữ, chúng tôi cố ý dùng kiểu nói bình dân để trình bày các luận chứng cho dễ hiểu đối với đa số quần chúng có trình độ văn hoá khác nhau.
7. Bổ sung cần thiết
Chúng tôi chân thành mong muốn các chuyên viên giáo lý, các giáo lý viên dạy cho dự tòng sử dụng giáo trình này như một thử nghiệm, và xin đóng góp xây dựng bổ sung cho giáo trình được hữu hiệu hơn, phục vụ cho công cuộc truyền giảng Tin Mừng của cả Hội Thánh.
***************
PHẦN I
DẪN NHẬP
Rút từ mạc khải tự nhiên
(Từ bài 1 đến bài 4)
 
Bài 1
ĐI ĐẠO ĐỂ LÀM GÌ?
1. Đặt vấn đề
Con người làm gì cũng đòi hỏi phải có mục đích, ý nghĩa của việc mình làm. Vậy đi Đạo để làm gì? Có được tiền được gạo không mà đi?
2. Nhìn nhận theo tinh thần của Đạo Hiếu
 Thời đại ngày nay, tâm thức thực dụng của con người là “lãi làm lỗ bỏ”. Người ta thiên về các hoạt động kinh tế, đặt tiền của lên địa vị độc tôn có giá trị hàng đầu.
Tuy nhiên, chân giá trị của một con người  không chỉ tuỳ thuộc vào tiêu chuẩn kinh tế. Giàu có nhưng bất hiếu với cha mẹ ông bà tổ tiên, không chung thuỷ trong đời sống vợ chồng, thất tín, lừa thầy phản bạn, tàn ác, ích kỷ, hại nhân, thì hạng người đó có đáng được tôn trọng, tin tưởng không?
 Do đó, để sống xứng là một con người, ngoài hoạt động kinh tế kiếm ra nhiều của, còn phải có những sinh hoạt thể hiện chữ đức, lòng hiếu nghĩa, mới có giá trị nhân bản đáng mọi người tôn trọng.
Chữ đức thể hiện qua lòng hiếu kính với cha mẹ tổ tiên, tình chung thủy vợ chồng, nhân nghĩa với bạn bè, bà con lối xóm.
Trong lĩnh vực hiếu nghĩa, ta không thể áp dụng phương châm “lãi làm lỗ bỏ” như trong lĩnh vực kinh tế. Trái lại, để giữ lòng hiếu nghĩa thì dù lỗ thiệt đến mấy đi nữa cũng phải làm. Ta phải sẵn sàng từ bỏ tất cả (thời gian cũng như tiền của) để thực hiện công việc hiếu nghĩa, không tính toán hơn thiệt hay vụ lợi … Nếu chỉ tính toán lợi nhuận kinh tế mà không để ý đến tình nghĩa thì chưa đủ là một con người nhân bản. Tục ngữ có câu: “Chỉ  biết nắm sôi dẻo mà không biết nẻo đường đi”. Thí dụ: Khi bố mẹ về già không còn giúp ích gì cho con cái nữa, trái lại còn gây nhiều phiền hà; nhưng không phải vì thế mà con cái tính toán theo cung cách “lãi làm-lỗ bỏ” để đẩy bỏ bố mẹ ra đường. Bởi vì, con cái đã chịu ơn bố mẹ quá nhiều, bây giờ đền đáp chưa đủ huống hồ còn tính toán thiệt hơn.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) đã ra thông cáo ngày 14/11/1974 về việc tôn kính ông bà tổ tiên, trong đó có viết: “… việc tôn kính ông bà tổ tiên và các vị anh hùng liệt sĩ, theo phong tục địa phương là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu…,và chính Chúa cũng đã truyền phải thảo kính cha mẹ, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa”.* HĐGMVN dạy các gia đình Công Giáo nên lập bàn thờ tổ tiên trong nhà ngay bên dưới bàn thờ Chúa, tổ chức các ngày giỗ kỵ theo phong tục địa phương, theo đúng đường hướng hội nhập văn hoá mà Công đồng Vatican II chủ trương.
Đi Đạo chính là việc hiếu nghĩa, chứ không phải việc vụ lợi làm ăn kinh tế. Đạo là Đạo Hiếu, hiếu với cha mẹ ông bà tổ tiên và hiếu với Ông Trời (Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá) là Đấng tạo dựng nên cả tổ tiên mình nữa. Do đó, đặt vấn đề theo Đạo có được tiền được gạo không thì thật là thô lỗ và bất kính.
Đi Đạo cũng không chỉ để cầu khấn Ông Trời ban cho mình được khoẻ mạnh, làm ăn tấn tới, khỏi tai bay vạ gió, được như ý mình muốn. Đó là thứ đạo khấn vái cầu lợi, muốn các vị thần thánh trở thành công cụ giúp mình đạt được ý muốn, chứ không phải tôn thờ các vị đó.
Một tôn giáo thuần khiết thì phải là đạo ngưỡng mộ tri ân, nghĩa là cảm phục quyền phép của Ông Trời thì bái thờ; thấy sự đức độ thánh thiện của Ngài thì cảm mến, thấy công ơn của Ngài thương ta vô bờ bến thì biết ơn, hiếu kính.
Đạo Công Giáo chính là đạo hiếu: hiếu với cha mẹ, ông bà tổ tiên là Hạ phụ; hiếu với các vị anh hùng dân tộc là Trung phụ; hiếu với Ông Trời là Thượng phụ… Do đó, không nên nghe luận điệu xuyên tạc: “Theo đạo Công Giáo là bỏ tổ tiên, phản quốc”.
Nếu ta có nghĩa vụ hiếu với cha mẹ ông bà tổ tiên vì đã sinh dưỡng ta, thì ta càng phải hiếu với Ông Trời hơn nhiều. Ông Trời ban cho ta dư dật những thứ cần thiết cho đời sống như: không khí, nắng mưa, hơi thở từng giây từng phút, chỗ đứng, chỗ ngồi trong môi trường sinh thái hài hoà. Ngài ban cho những thứ đó mà cha mẹ không thể nào cho ta được, mặc dù ta quá quen coi là bình thường, nhưng lại là những thứ thiết yếu không thể thiếu được trong đời sống con người. Ca dao Việt Nam có câu: Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp. Ta phải hiếu với Ông Trời hơn hẳn hiếu với ông bà cha mẹ bởi vì ta phải lệ thuộc mãi vào Ông Trời cho đến hết đời, trong khi ta chỉ phụ thuộc vào cha mẹ trong một thời gian thôi.
3. Kết luận.
Đi Đạo là để tỏ lòng báo hiếu với  tổ tiên và đặc biệt với Ông Trời chứ không phải vì vụ lợi.
Hiếu nghĩa là một sinh hoạt thuộc lĩnh vực đạo đức không thể tính toán thiệt hơn. Đi Đạo thuộc lĩnh vực hiếu nghĩa. Nếu hiếu với tổ tiên, hiếu với các vị anh hùng dân tộc mà không hiếu với Ông Trời sinh ra tổ tiên mình thì chưa trọn nghĩa, vẹn tình.
Như vậy, đi Đạo là thể hiện tình hiếu nghĩa với Ông Trời còn gọi là Thiên Chúa. Nhưng có Ông Trời hay không? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài sau.
 
Câu hỏi:
Câu 1: Đi đạo để làm gì? Mỗi lần đi nhà thờ, đọc kinh có được gạo được tiền không?
Câu 2: Có phải đi đạo để được Ông Trời (Đấng Tạo Hoá) phù hộ cho khoẻ mạnh, làm ăn tấn tới, khỏi tai bay vạ gió không?
Câu 3: Có phải đi đạo là bỏ ông bà tổ tiên không? Tại sao nhiều gia đình Công Giáo không bày bàn thờ ông bà tổ tiên, như thế có đúng không? Nên trưng bày bàn thờ ông bà tổ tiên như thế nào cho đúng?
Câu 4: Hiếu với Ông Trời và hiếu với ông bà tổ tiên đàng nào quan trọng hơn? Nêu lý do.
 
Bài 2
CÓ THIÊN CHÚA KHÔNG?
Dẫn nhập
Đi Đạo là để thể hiện lòng hiếu với Trời, nhưng thực có Ông Trời không?
1. Thuyết vô thần chủ trương
- Không có Ông Trời thần thiêng nào hết, chỉ có vũ trụ vật chất tự nhiên như giác quan ta nhận thấy trực tiếp.
- Vũ trụ vật chất ấy tự tồn tại vĩnh hằng và tiến hóa không ngừng sinh ra muôn loài muôn vật mà không cần thần thánh nào tạo dựng.
Vậy đâu là sự thật? Muốn biết sự thật đó, ta cùng tìm hiểu quan điểm của các nhà khoa học. Vì lời nói của họ có thế giá ta dễ chấp nhận.
2. Cái nhìn của khoa học
Theo các nhà  khoa học, vũ trụ như ta thấy hiện nay đã có lúc bắt đầu và sẽ có ngày kết thúc. Người ta còn có thể ước tính được tuổi của các thiên thể trong vũ trụ.
Theo thiên văn học, trái đất và các hành tinh quay chung quanh mặt trời được hình thành do các mảnh vỡ của mặt trời văng ra và nguội dần. Mặt trời là một trong tỉ tỉ các ngôi sao định tinh, nhiệt độ lên tới hàng triệu độ, tự phát sáng, có ngôi sao lớn gấp ngàn lần mặt trời.
Tuy sáng nóng như vậy nhưng chúng đang nguội dần, người ta có thể tính được ngày mà chúng sẽ tắt sáng. Dựa theo các phương pháp khoa học ngày nay, người ta có thể ước tính được tuổi các thiên thể, tuổi của trái đất, và tuổi của cả các hạt vi mô (là những viên gạch xây nên vũ trụ) khoảng trên dưới 10 tỷ năm. Lý thuyết về Vụ Nổ Lớn (Big bang) của nhà bác học Lemaitre hiện vẫn được các nhà thiên văn tán đồng. Theo đó toàn thể vũ trụ vật chất này gồm hàng tỷ thiên hà, một thiên hà lại gồm hàng tỷ ngôi sao, trước đây  hơn 10 tỷ năm đã xuất phát từ một khối vật chất có tỷ khối vô cùng đặc, nổ tung với phản ứng dây chuyền (tựa như bom hạt nhân). Các mảnh vỡ văng ra chuyển động với vận tốc vô cùng lớn, xoáy thành hình chôn ốc, tạo thành vũ trụ các thiên thể. Hiện nay, vũ trụ ngày càng giãn nở. Các thiên thể vẫn đang  trên đường rời xa nhau. Tính tốc độ giãn nở này ngược lại với dòng thời gian, ta gặp tới lúc bắt đầu của nó. Do đó, vũ trụ vật chất này không thể tự tồn tại vĩnh hằng được. Một thực tại tự có và vĩnh hằng thì không có lúc bắt đầu, không có lúc kết thúc.
Vậy vũ trụ phải có lúc bắt đầu. Nó không tự hữu, phải có nguyên nhân tác thành nên nó. Xét theo nguyên lý nhân quả: có hiệu quả bắt buộc phải có nguyên nhân tác thành nên nó.
Từ nguyên lý nhân quả (có hiệu quả tất phải có nguyên nhân), ta suy biết chắc chắn phải có Ông Trời (Thiên Chúa) tạo dựng và quan phòng điều khiển vũ trụ.
Thí dụ:  
+ Nhìn thấy một bức tranh sơn thủy đẹp (vẽ cảnh vật núi non sông nước), ta khẳng định phải có tác giả họa sĩ vẽ ra chứ không thể ngẫu nhiên mà có. Dù chỉ là một bức tranh mô tả sông núi mà còn phải có người làm ra, phương chi chính thực tế sông núi trời biển càng phải có Đấng tạo thành. Đúng như câu ca dao: “Núi kia ai đắp mà cao, sông kia bể nọ ai đào mà sâu”.                                   
+ Dẫn chứng của Đức Cha Fénelon về chiếc đồng hồ: có một cậu giúp lễ đi dạo cùng Đức Cha, khi cậu nhìn lên trời và hỏi ngài: thưa Đức Cha, vũ trụ này bởi đâu mà có? Đức Cha vờ như không nghe tiếng, rồi ngài đưa tay ra cho cậu xem chiếc đồng hồ và nói: Cha có chiếc đồng hồ rất đẹp đây. Cậu bé trầm trồ khen  ngợi và hỏi: ai làm ra chiếc đồng hồ đó, thưa Cha; Đức Cha trả lời, tự nhiên nó có đấy! Cậu bé không tin và quả quyết phải có người tài giỏi làm ra nó. Khi đó Đức Cha mới bảo: nhìn thấy chiếc đồng hồ đeo tay vận hành nhịp nhàng chính xác, ta quyết chắc có người thợ làm ra nó. Cho nên vũ trụ này vận hành như chiếc đồng hồ khổng lồ, vô cùng chính xác (tới mức độ các nhà thiên văn có thể tính lịch trước hàng vạn năm không sai một phút); cụ thể, khoa học có thể biết được nhật thực hay nguyệt thực trước và cho biết thời gian chính xác nó sẽ xảy ra. Ta khẳng định chắc chắn phải có một vị Thiên Chúa vô cùng quyền phép tạo dựng nên nó. Còn vũ trụ thì vô cùng to lớn (chiều kích phải tính bằng đơn vị năm ánh sáng. Tốc độ của ánh sáng là 300.000km/s, thì một năm ánh sáng đi được 365 ngày x 24 giờ  x  60 phút  x  60 giây  x  300.000 km/s = 3.460.800.000.000 km; tức gần ba ngàn năm trăm tỷ km. Như vậy, vũ trụ vô cùng to lớn). Cụ thể, so sánh với các thiên thể khác trong vũ trụ thì trái đất chỉ như hạt cát trong sa mạc. Nhìn lên mặt trời ta thấy nó chỉ to bằng cái đĩa; nhưng đem so sánh kích thước mặt trời với trái đất, thì nếu mặt trời to bằng cái nong phơi lúa, trái đất sẽ chỉ nhỏ bằng hạt đậu. Sự hiện hữu của vũ trụ là sứ điệp không lời, nói lên cho ta thấy có Đấng Tạo Hoá vô cùng quyền phép. Đấng ấy chính là Thiên Chúa, đúng như lời Tv19, 2-5:
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm.
Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh
mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu
và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển”.
Tóm lại: Theo nguyên lý nhân quả thì trái đất và vũ trụ không thể tự mình mà có được, mà phải có nguyên nhân tác thành nên nó. Nguyên nhân đó chính là Ông Trời (Thiên Chúa). Con người sinh ra ở đời có cha mẹ, cha mẹ do ông bà tổ tiên, tổ tiên phải do Thiên Chúa tác thành, không ai từ kẽ nẻ chui ra làm người.
Nếu muôn loài muôn vật (kể cả con người) do vũ trụ vật chất tiến hóa mà thành, thì đầu hết vũ trụ vật chất ấy cũng phải do Thiên Chúa tạo thành và quy định luật tiến hóa cho nó.
Nhưng nếu cái gì cũng phải theo nguyên lý nhân quả, thì Ông Trời cũng phải có người sinh ra? Vậy vấn đề đó giải quyết sao?
3. Bản tính Thiên Chúa
Nếu đặt vấn đề như trên, chúng ta sẽ đặt Ông Trời (Thiên Chúa) đó ngang hàng với chúng ta và vũ trụ, vì cần phải có nguyên nhân tạo thành. Như thế thì không còn gọi là Thiên Chúa, vì Thiên Chúa phải tự mình mà có và sinh ra muôn loài muôn vật. Vũ trụ có khởi đầu còn Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu, nghĩa là tự mình mà có.
Thí dụ : Một đoàn tàu lửa, toa sau phải do toa trước kéo, nhưng cái đầu máy tự nó vận hành để kéo các toa khác theo nó; nếu nó cũng phải có toa khác kéo thì  không còn gọi là đầu máy nữa.
Theo ngôn từ triết học, Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu là nguyên nhân đệ nhất, nguyên nhân vô nguyên nhân; như thế mới gọi là Thiên Chúa, Ngài là Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu, Vô Thuỷ Vô Chung, không có khởi đầu và không có kết thúc. Ngài hiện hữu từ trước vô cùng và sẽ có mãi mãi vô cùng về sau và Ngài tác sinh tất cả các hữu thể khác.
4. Phẩm tính của Thiên Chúa
Nếu có Thiên Chúa thì tại sao không ai nhìn thấy được?
Quan niệm con người thời xưa: Thiên Chúa ở trên trời, Người làm mưa, làm gió, sấm sét v.v…, không muốn cho con người nhìn thấy mình nên cho mây bao phủ che lấp đi, vì nếu ai nhìn thấy Ông Trời thì sẽ phải chết.
Ngày nay, khoa học tiến bộ đã nhận thấy có những thực thể không ai nhìn thấy được nhưng lại có thật, đó chính là những thực thể thiêng liêng vô hình. Thí dụ như “Trí khôn và Tình yêu” nơi con người chúng ta, không ai nhìn thấy hay có thể cân đong đo đếm được, nhưng không vì thế mà nói rằng không có chúng. Ai cũng phải công nhận con người có trí khôn, cho dù không thấy được nó mà chỉ thấy được các việc làm cụ thể do trí khôn chỉ đạo. Câu chuyện dân gian cổ xưa về trí khôn con người (ngày nay vẫn còn được lấy làm bài tập đọc cho học sinh cấp I), cho ta một luận chứng thuyết phục về sự hiện hữu của trí khôn, tuy ta không thấy được bằng mắt. Cũng vậy, ta không thể thấy tình yêu nơi con người to nhỏ thế nào, mầu sắc gì, mà chỉ thấy những việc làm thể hiện tình yêu đó mà thôi. Tuỳ theo cách thức thể hiện mà ta có thể biết được mức độ của tình yêu.
Thiên Chúa thuộc thực thể thiêng liêng vô hình. Dù ta không thấy, không nắm bắt được nhưng thực sự là phải có Thiên Chúa và từ Ngài phát sinh các thực thể khác.
Mặt khác, có những điều thực tế mà khả năng suy luận của con người còn cho biết chân lý chắc chắn hơn cả mắt nhìn thấy. Thí dụ: ta chọc một cây gậy vào bể nước trong suốt, mắt ta nhìn thấy cây gậy bị gãy ở mặt nước, nhưng trí khôn ta suy luận bảo rằng cây gậy không hề bị gẫy mà vẫn thẳng. Vậy ta thử hỏi trong trường hợp này, mắt thấy có cho ta biết sự thật hơn dùng lý trí suy luận không ? Do đó, lý trí ta suy luận phải có Thiên Chúa thì còn chắc thực hơn là mắt nhìn thấy.
Kết luận
Như vậy, khi nhìn xem vũ trụ và muôn loài muôn vật ta phải quả quyết một cách chắc chắn rằng: có Thiên Chúa tạo dựng muôn vật và Ngài vô cùng quyền phép tài tình mới có thể an bài sắp đặt chúng cách kỳ diệu như thế. Ngài là cội nguồn của ta, ta phải có tâm tình hiếu kính đối với Ngài, thể hiện tâm tình tôn giáo ngưỡng mộ tri ân đối với Ngài, suy phục quyền phép của Ngài với tâm tình biết ơn.
Gợi ý cầu nguyện với Thiên Chúa: cảm tạ vì Ngài quan phòng săn sóc ta, ca ngợi Ngài vì công trình tạo dựng hùng vĩ; xin ơn cho ta được biết và tin mến Ngài.
Nên tham dự những chuyến du lịch sinh thái, nhìn ngắm những cảnh đẹp thiên nhiên, để nâng cao tâm hồn. Hãy nhìn xem biển rộng sông dài, núi cao sẽ thấy Thiên Chúa hiện diện.
Câu hỏi
Câu 1: Có phải mọi nhà bác học đều chủ trương không có Ông Trời (Đấng Tạo Hoá)? Theo quan điểm của khoa học hiện đại thì vũ trụ vật chất này có thể vĩnh hằng không? Nếu không thì nó xuất phát từ đâu?
Câu 2: Bạn lấy lý do nào để quả quyết vũ trụ thiên nhiên này nhất định phải có Ông Trời (Đấng Tạo Hoá) dựng nên?
Câu 3: Nếu có Đấng Tạo Hoá (Thiên Chúa), tại sao không có ai nhìn thấy Ngài? Bạn có biết những thực tại nào tuy không nhìn thấy mà vẫn có thật?
Câu 4: Theo nguyên lý nhân quả, con người phải có bố mẹ sinh ra, vũ trụ phải có Thiên Chúa tác thành. Vậy ai sinh ra Thiên Chúa?

 
Bài 3
TA CÓ THỂ GẶP ĐƯỢC THIÊN CHÚA KHÔNG?
Dẫn nhập
Hầu hết mọi người đều tin là có Ông Trời (Thiên Chúa). Con người ở mọi nơi, mọi thời đều khao khát đi tìm Thiên Chúa bằng mọi phương cách mà họ có thể. Mặc dù ta không nhìn thấy nhưng Ngài vẫn luôn luôn có, vì Ngài ở trong cõi thần thiêng. Ngài đã tỏ mình ra qua những nẻo đường để con người có thể tìm gặp Ngài.
(Giới thiệu bài hát: Em đi tìm Thiên Chúa, Ngài ở đâu ...)
Các tôn giáo chính là lịch sử ghi lại những cố gắng của con người đi tìm Thiên Chúa.
I. Khuynh hướng tự nhiên con người đi tìm Chân-Thiện-Mỹ
Một điều nhận xét lý thú là tiêu chuẩn chân lý có thể phát hiện được một cách chắc chắn qua bản năng tự nhiên của muôn loài:
- Đối với vật chất vô cơ thì định luật của chúng rất chính xác. Thí dụ như: nước chảy chỗ trũng (chính xác đến nỗi người ta lấy mực nước làm thước đo thăng bằng).
- Đối với động vật hoạt động theo bản năng cũng rất chính xác: như đói tự tìm ăn và có thể tự tìm lá thuốc chữa đúng bệnh để sinh tồn.
- Đối với con người thì việc đi tìm Thiên Chúa là một nhu cầu tâm linh phù hợp với bản năng của loài có lý trí, giống như bản năng động vật của thể xác chúng ta: đói thì tìm ăn, khát thì tìm uống. Ông Trời đã khắc ghi vào trong tâm trí chúng ta khát khao sự thật. Khi chưa tìm được thì ta luôn thao thức băn khoăn tìm tòi. Sự tìm kiếm đó chắc chắn cũng rất chính xác, phù hợp với sự thật khách quan.
Con người không những chỉ có lý trí, nhưng còn có con tim, luôn có xu hướng đi tìm sự thiện, sự cao đẹp, hạnh phúc. Đó cũng là bản năng Ông Trời đã phú bẩm cho con người. Khuynh hướng tự nhiên đó của con người cũng phải nói lên một sự thật là có Thiên Chúa, Đấng là nguồn của sự Thiện, sự Cao Đẹp, và niềm Hạnh Phúc cho con người.
Đối với loài vật, chúng cũng có cái tâm bản năng do Trời ban cho. Con vật bố cũng như con vật mẹ luôn quấn quýt, bảo vệ và biết săn sóc các con của chúng khi nào chúng cần. Hết thời gian cần thiết thì chúng thôi săn sóc. Riêng con người trổi vượt hơn, không bao giờ cha mẹ có thể quên con cái mình được.
Còn đối với Ông Trời lại càng siêu việt hơn nữa, như lời Thánh Vịnh 27,10 diễn tả:
Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa,
thì hãy còn có Chúa đón nhận con”
Trải qua dòng lịch sử, thời nào người ta cũng đặt vấn đề tìm kiếm xem có Ông Trời hay không? Vì trí khôn luôn thao thức đi tìm sự Thật, sự Thiện.
Qua dòng lịch sử các tôn giáo, con người đã để lại những vết chân đi tìm sự Thật, sự Thiện là đi tìm chính Đấng dựng nên mình. Đấng đó chính là Thiên Chúa (điểm lại lịch sử các tôn giáo).
II. Các Giai đoạn đi tìm Thiên Chúa
      Một vị thánh hiền trong đạo Công Giáo đã thốt  lên sự khao khát đi tìm sự thật như sau: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa và lòng con luôn khắc khoải đi tìm Chúa. Tìm tới khi nào gặp được Chúa, tâm hồn con mới được an nghỉ” (Thánh Au-gu-ti-nô).
Những vết tích của sự mò tìm Thiên Chúa chính là các tôn giáo hình thành qua dòng lịch sử nhân loại.
1. Giai đoạn thờ Vật Linh (Bái Vật Giáo)
Giai đoạn này, con người còn mọi rợ ăn hang ở lỗ, còn cảm thấy mình yếu ớt trước những con vật có sức mạnh mà con người không chống lại được. Họ phải bái phục chúng như thần linh. Thí dụ: thờ con hổ như chúa sơn lâm, thờ trăn tinh …
Câu chuyện “Thạch Sanh đánh Trăn Tinh” ghi lại vết tích của giai đoạn suy tàn Bái Vật Giáo ở Việt Nam.
2. Giai đoạn thờ Ngẫu Tượng
Khi con người còn lạc hậu chưa biết khắc phục thiên nhiên thì họ khiếp sợ trước những sức mạnh thiên nhiên. Đối với họ, điều đó còn là huyền bí. Khi lũ lụt, thấy sức mạnh của nước dữ dội, họ cho đó là Thuỷ Thần. Thấy rừng núi có rất nhiều huyền bí bất trắc khiếp sợ, họ cho là có Sơn Thần ... Từ đó xuất hiện đủ các loại: Thần Núi, Thần Sông, Thần Sấm, Thần Sét, Thần Mưa, Thần Gió ... Nhưng vì không nhìn thấy những vị thần đó, nên họ nặn ra vô số tượng để thờ (Ngẫu Tượng Giáo). Thờ ngẫu tượng chính là do khuynh hướng của con người luôn đi tìm Thiên Chúa, nhưng họ không gặp được Ngài, không biết Ngài ra sao, nên họ mới nặn ra những tượng thần theo ý nghĩ của họ.
Câu chuyện “Sơn Tinh-Thuỷ Tinh” trong thần thoại Việt Nam là một vết tích của giai đoạn Ngẫu Tượng Giáo.
3. Giai đoạn đạo giáo thời văn minh
Đến thời này, con người phát triển suy lý, họ mới xác định lại tất cả những sức mạnh thiên nhiên không phải là thần, mà chỉ là sức mạnh quyền năng của thần thiêng thể hiện nơi chúng mà thôi. Họ bắt đầu tìm cách lý giải các huyền bí, cụ thể là sự huyền bí của kiếp sống nhân sinh. Thấy kiếp sống con người quả là khổ ải, các vị thánh hiền đã cố tìm ra những nguyên nhân và vạch ra những con đường để giải thoát con người khỏi lầm than khốn khổ. Từ đó phát sinh ra đạo giáo (có giáo lý). Thí dụ :
- Theo Phật Giáo: nguyên nhân gây ra đau khổ chính là dục vọng. Muốn hết đau khổ phải diệt dục để đưa con người tới tình trạng vô vi, đạt tới tình trạng hạnh phúc, gọi là Niết Bàn (câu  chuyện Đức Thích Ca Mâu Ni vị sáng lập Phật Giáo)*.
- Theo Khổng Giáo*: muốn hạnh phúc hài hoà, xã hội phải có tôn ti trật tự, con người phải sống có đức, tức là có luân thường đạo lý. Đức Khổng đề ra : Tam Cương - Ngũ Thường là con đường sống (đạo là đường) đưa con người đi tới bình an hạnh phúc.
Con người muốn hạnh phúc, trước hết phải tu thân, tề gia, rồi mới trị quốc, bình thiên hạ.
  + Tam Cương: Phụ - Tử, Phu - Phụ, Quân - Thần.
  + Ngũ Thường: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín.
Nhiều đạo khác cũng đưa ra phương thế để con người có thể đạt được hạnh phúc. Những đạo đó có một giá trị nhất định, vì  chỉ vạch con đường (đạo) cho ta đi tới hạnh phúc, đạt tới sự thật, sự thiện, sự cao đẹp, tức là đi tìm đường tới Thiên Chúa. Tuy nhiên, còn chính Thiên Chúa thì chưa gặp được Ngài.
Chính Đức Khổng Tử cũng như Đức Phật Thích Ca chưa dạy ta biết được về bản chất của Ông Trời như thế nào. Đạo lý của các ngài dạy ta sống ở đời này cho đúng với đạo làm  người. Còn sau cái chết phần xác, hoặc sau khi ra khỏi kiếp luân hồi (đối với Phật Giáo) con người sẽ ra sao thì các ngài chưa có lời minh giải.
Kết Luận
Chỉ nhờ lý trí và cái tâm tự nhiên mà thôi, con người chỉ biết được có Thiên Chúa chứ không thể tìm gặp được Thiên Chúa. Kể cả qua các Tôn Giáo Đạo Lý, chúng ta cũng chưa thể tìm gặp được Ngài.
Chúng ta chỉ có thể tìm gặp được Thiên Chúa khi chính Ngài tự tỏ mình ra cho chúng ta mà thôi.
Nhưng Thiên Chúa có tự tỏ mình ra cho con người không?
Tỏ ra bằng cách nào, khi nào và ở đâu?
 Đó chính là đề tài mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong các bài sau.
Gợi ý cầu nguyện: theo tâm tình bài hát Em đi tìm Thiên Chúa.
  
Câu hỏi
Câu 1: Căn cứ vào đâu mà quả quyết rằng “bản tính tự nhiên của con người là hướng về Thiên Chúa và đi tìm kiếm Ngài”. Trong thực tế lịch sử,  loài người có đi tìm Thiên Chúa không?
Câu 2: Bạn hãy nói lên các giai đoạn trong lịch sử loài người đi tìm Thiên Chúa, qua sự hình thành các tôn giáo?
Câu 3: Bạn hãy nói lên những điều mình biết về Phật giáo và Khổng giáo.
Câu 4: Đức Phật Thích Ca và Đức Khổng Tử có dạy  cho chúng ta biết gì về Ông Trời không? Từ đó, ta kết luận thế nào về khả năng con người tự mình đi tìm Thiên Chúa?
  
Bài 4
THIÊN CHÚA CÓ TỎ MÌNH CHO LOÀI NGƯỜI KHÔNG?
Dẫn nhập
   Con người không có khả năng tìm gặp được Thiên Chúa vì Ngài ở hệ siêu linh, còn ta ở hệ người trần mắt thịt, nên phải do chính Ngài tỏ ra, ta mới có thể gặp được Ngài. Vậy Thiên Chúa có tỏ mình ra cho ta không? Ngài đã tỏ ra chưa và bằng cách nào?
1. Thiên Chúa tỏ mình cho nhân loại theo dòng lịch sử
Hiện nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình cho con người qua mạc khải tự nhiên, là qua lý trí suy luận và qua con tim thiện chí của con người. Trên đường đi tìm Thiên Chúa, một vị thánh hiền thốt lên: “Lạy Thiên Chúa của Ít-ra-en, lạy Đấng cứu độ, Ngài quả thật là vị Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45,15).
Con người có thể tìm biết có Thiên Chúa qua các nẻo đường tự nhiên nhờ lý trí và con tim của mình. Đó là kiểu nhận biết “sinh nhi chi tri”. Sự nhận biết này là do Thiên Chúa tỏ mình cách gián tiếp cho ta qua khả năng tự nhiên của bản tính con người.
Các tôn giáo tự nhiên đã vạch ra những con đường tìm đến với  Thiên Chúa, nhưng lại không có được ý niệm rõ nét về Ngài.
Khi tra cứu lịch sử các tôn giáo, lịch sử các dân tộc, ta có thể nhận ra  những nét khác biệt độc đáo của một tôn giáo, đó là Do Thái Giáo
 2. Những nét khác biệt của Do Thái Giáo
Do Thái giáo là một tôn giáo khác hẳn với các tôn giáo đương thời khác ở ba nét đặc biệt như:
   + Tôn thờ một vị Thiên Chúa nhất nguyên tuyệt đối, khác với các tôn giáo khác là nhị nguyên và đa nguyên …
   + Tôn thờ một vị Thiên Chúa vô hình,  trong khi đó các tôn giáo khác thờ ngẫu tượng, là “sản phẩm do tay con người làm ra”. Trong đời sống, dân Do Thái luôn luôn phải chiến đấu chống lại cám dỗ thờ ngẫu tượng.
   + Tôn thờ một vị Thiên Chúa siêu việt, khác hẳn với suy nghĩ của con người. Kinh Thánh cho thấy việc Ngài làm khác hẳn các vị thần khác.
Thí dụ: Thiên Chúa tự Mạc khải “Ta là Đấng Tự Hữu” (x.Xh 3,14) cho Mô-sê nơi bụi gai bốc cháy là độc nhất vô nhị trong lịch sử các tôn giáo.
Qua ba đặc tính trên của vị Thiên Chúa mà dân tộc Ít-ra-en tôn thờ, ta nhận thấy Do Thái giáo khác hẳn với các tôn giáo đương thời. Các tôn giáo khác tôn thờ ngẫu tượng do mình nghĩ, nặn hay tưởng tượng ra theo tầm mức của con người. Còn Do Thái  giáo thì có những huyền nhiệm con người không thể nghĩ  ra, vì nó trái hẳn với tính tự nhiên của con người. Những huyền nhiệm đó phải là từ bên ngoài áp đặt, nói cách khác, phải là Thần Khải. Nói áp đặt vì không phải tự họ nghĩ ra, họ không hiểu thấu, nhưng họ vẫn phải chấp nhận một cách bất đắc dĩ, mãi về sau họ mới nhận thấy là đúng.
Cụ tổ Áp-ra-ham không thể tự mình có ý tưởng về Thiên Chúa vô hình mà phải do Thiên Chúa đã mạc khải cho ông bằng lời tâm linh. Lời tâm linh đó mạnh mẽ tới mức độ khiến ông đã bỏ quê hương để theo tiếng Ngài gọi đi tới miền đất xa lạ. Chính là do Thiên Chúa đi bước  trước đến với ông.
Những gì Mô-sê đã hấp thụ được từ nền văn hoá Ai-cập thì khác hẳn những gì ông đã lãnh nhận từ mạc khải trên núi Xi-nai.
Một tôn giáo độc thần trung thành với một vị Thiên Chúa duy nhất, vô hình tới mức triệt để, tồn tại giữa một môi trường văn hoá đa thần giáo, ngẫu tượng giáo và bái vật giáo đương thời. Tôn giáo này hẳn là đạo được mạc khải chứ không phải là đạo do con người nặn ra.
Kinh Thánh của Do Thái Giáo vay mượn rất nhiều câu chuyện truyền thuyết của nền văn hoá Trung Đông ngoại giáo thời bấy giờ, nhưng lại có những khía cạnh chỉnh lý khác xa.
Thí dụ: Trong trình thuật về sáng tạo vũ trụ và con người (x.St 1-2), Kinh Thánh chỉ dùng những truyền thuyết hiện hành để diễn tả một quan niệm độc đáo về một vị Thiên Chúa duy nhất và vô hình, sáng  tạo nên vũ trụ vạn vật. Trong khi đó, bản văn của các trình thuật đương thời đầy mầu sắc nhị  nguyên, đa nguyên và ngẫu tượng.
Kết Luận
Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho con người qua những công trình tạo dựng của Ngài  mà con người có thể nhờ lý trí tự nhiên mà biết được. Vì thế, nhờ khả năng của lý trí suy luận và con tim của mình, con người có thể nhận biết được có  Thiên Chúa. Đó là Mạc Khải tự nhiên.
Khi tra cứu lịch sử các dân tộc trên thế giới, ta có thể dễ dàng nhận thấy Thiên Chúa đã tự mạc khải cách riêng cho dân tộc Ít-ra-en, để con người biết về Ngài, nếu không con người không thể biết được.
Do đó, các bài tiếp theo, ta sẽ đi sâu vào Do Thái  Giáo, để cùng với dân Do Thái đón nhận những điều Thiên Chúa mạc khải cho họ và cũng là cho cả loài người.
Gợi ý cầu nguyện: Cảm tạ Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho những người thành tâm thiện chí, xin cho mỗi người tìm kiếm Chúa được ơn tâm thành suy phục chân lý như một con người thiện chí.
 
Câu hỏi
Câu 1: Trong lịch sử nhân loại, Thiên Chúa tỏ mình cho con người qua mạc khải tự nhiên như thế nào? Khả năng tự nhiên của con người biết được gì về Thiên Chúa?
Câu 2: Hãy nêu 3 nét khác biệt của Do Thái giáo với các tôn giáo khác. Từ đó, ta có thể quả quyết đạo Do Thái là đạo Thần khải. Vì sao?
Câu 3: Trình bày những khác biệt giữa mạc khải cho Mô-sê trên núi Xi-nai với nền văn hoá Ai-cập và nền văn hoá Trung Đông.
Câu 4: Tại sao ta có thể quả quyết Thiên Chúa đã tự mạc khải cho dân tộc Ít-ra-en và Do Thái giáo đáng để ta nghiên cứu và học hỏi.
  
PHẦN II
CHUẨN BỊ ƠN CỨU ĐỘ
Rút từ Mạc Khải Cựu Ước
(Từ bài 5 đến bài 11 )

 
Bài 5
CÁC TỔ PHỤ: ÁP-RA-HAM, I-XA-ÁC,  GIA-CÓP VÀ GIUSE
Dẫn nhập
Nghiên cứu lịch sử các tôn giáo trên thế giới, ta thấy Do Thái Giáo có những yếu tố rõ nét của một tôn giáo Thần Khải, không do ý riêng con người sáng nghĩ ra, đáng để ta đi sâu tìm hiểu lịch sử của tôn giáo đó.
1. Áp-ra-ham  tổ phụ dân Do Thái *
a. Thân thế
Áp-ram là người giàu có, thuộc thị tộc Tha-re, sống tại Ua nay thuộc nước I-rắc gần vịnh Ba-tư, vợ là Xa-rai đã ngoại thất tuần mà không con (x.St 11, 27-32).
Sau này ký kết Giao Ước, Thiên Chúa đổi tên ông và vợ ông: Áp-ram thành Áp-ra-ham, Xa-rai thành Xa-ra (x.St 17,5.15).
 
b. Thiên Chúa tuyển chọn Áp-ra-ham
Thiên Chúa tự tỏ mình cho Áp-ra-ham một cách hết sức đặc biệt: Đấng thiêng liêng vô hình đã ngỏ lời với ông bằng thứ ngôn ngữ tâm linh, phán thẳng vào tâm trí  ông (giống như tiếng lương tâm nói trong lòng ta). Ngài truyền đạt cho ông nội dung như sau:
Thiên Chúa kêu gọi Áp-ra-ham từ bỏ quê hương đến đất Chúa sẽ chỉ cho ông là miền đất Ca-na-an. Thiên Chúa hứa cho ông 3 điều:
 Một dân tộc đông đảo “như sao trên trời, như  cát bãi biển” (x.St 15,5; St 22,17).
‚ Một mảnh đất làm sở hữu là đất Ca-na-an, nơi chảy sữa và mật (x.St 17,8).
ƒ Một phúc lành được ban xuống cho các  dân trên thế giới nhờ dòng tộc ông (x.St 12,1-3).
Những lời hứa này sẽ được thực hiện tiệm tiến theo dòng lịch sử. Đối với Áp-ra-ham và miêu duệ ông, những lời hứa này còn là huyền nhiệm chỉ được mạc khải dần dần.
c. Ký kết Giao Ước giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham
Áp-ra-ham xin Thiên Chúa cho dấu chỉ để bảo đảm lời Thiên Chúa hứa. Đáp lại Thiên Chúa đã ký kết Giao Ước với ông như sau:
Ngài đã ký kết Giao Ước với Áp-ra-ham theo nghi thức của dân Trung Đông đương thời: sát tế các con vật (x.St 15,7-21); nghi lễ cắt bì (x.St 17,9-14).
Như vậy, trong Giao Ước giữa Thiên Chúa với Áp-ra-ham, ta thấy Thiên Chúa luôn luôn đi bước trước (x.St 15-17).
Qua đó, ba khía cạnh làm nổi bật hành động của Thiên Chúa khi Ngài chủ động đến với Áp-ra-ham và Giao Ước với ông:
+ Tuyển chọn một con người làm dụng cụ.
     + Lời hứa Giao Ước do chính Thiên Chúa hứa.
     + Nghi  lễ ký kết Giao Ước.*
d. Cách đáp trả của Áp-ra-ham
Hành trình đức tin của Áp-ra-ham ròng rã hơn 20 năm mà chưa thấy lời hứa Giao Ước được thực hiện.
Áp-ra-ham tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, dù thấy những lời hứa khó thực hiện nhưng ông vẫn tin, vượt qua những lúc khủng hoảng vì  thử  thách.
Việc hiến tế I-xa-ác, người con duy nhất là cao điểm cuộc thử thách đức tin của Áp-ra-ham (x.St 22,1-19).
Nhờ niềm tin sâu xa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa để cho I-xa-ác được sống và chương trình thực hiện Giao Ước của Ngài được tiếp nối nơi dòng dõi ông.
Như vậy, qua cách thế đáp trả niềm tin của Áp-ra-ham vào Thiên Chúa, ông thật xứng đáng được gọi là cha những kẻ có lòng tin (x Rm 4,11).
2. Tổ  phụ I-xa-ác và Gia-cóp (x. St 21-36)
Thiên Chúa lập lại với I-xa-ác những lời Ngài đã hứa với Áp-ra-ham (x.St 26,3-5).
Re-bê-ca, vợ I-xa-ác song sinh hai người con E-sau và Gia-cóp cách khác lạ … (x.St 25,19-28).
Thiên Chúa chọn Gia-cóp để công trình cứu độ của Ngài được tiếp tục (x.St 25,29-34; 27,1-45) (câu chuyện Gia-cóp cùng mẹ dùng mưu chiếm quyền trưởng nam của E-sau).
Gia-cóp sinh được 12 người con do hai bà vợ (Lê-a và Ra-khen) và các nàng hầu (x.St 29, 31-30, 24; 35, 23-26).
3. Giuse và các anh em (x.St 37-47 )
Giuse được cha cưng chiều nhiều nên bị các anh em ghen ghét bán sang Ai-cập, nhưng nhờ có đức độ và sự khôn ngoan nên cuối cùng được nhà vua cất nhắc lên địa vị cao trong triều.
Vì nạn đói, các anh em Giuse sang Ai-cập để mua lương thực, được ông đón tiếp cách đầy lòng thương xót và bác ái. Sau đó, toàn bộ gia đình của Gia-cóp dời sang Ai-cập định cư  với Giuse.
Gia-cóp nhận hai người con của Giuse là Ép-ra-im và Mơ-na-sê như  con mình (x.St 48,1-6).
Bộ tộc Ít-ra-en  được hình thành và phát triển mạnh từ 12 người con của Gia-cóp (trải qua bốn thế kỷ, Ít-ra-en đã trở thành một dân đông đúc vô kể như lời Thiên Chúa đã hứa).
Qua sự tích các tổ phụ, nhất là qua câu chuyện Giuse, Thiên Chúa tỏ mình ra là một vị Chúa tài tình xếp đặt tuyệt vời, biết dùng cả cái hay cái dở trong diễn biến tự nhiên của cuộc sống để thực hiện chương trình Ngài đã an bài. Ngài cho dân Ít-ra-en được tới Ai-cập, miền đất trù phú để có thể nên đông đúc như sao trên trời, như cát dưới biển.
Kết luận
Qua mạc khải của Thiên Chúa ta thấy: Thiên Chúa tuy là thiêng liêng vô hình, nhưng không phải trừu tượng mà là Một Ai Đó (Une Personne), đối thoại song phương với con người. Ngài tuyệt đối trung thành với lời Giao Ước mà Ngài đã kết lập với các tổ phụ. Ngài quyền phép thông minh vô lượng, an bài mọi sự cách tuyệt tài để thực hiện chương trình của Ngài.
Gợi ý cầu nguyện: Xin Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, ban cho ta được niềm tin vào Thiên Chúa cách tuyệt đối và vững bước theo ơn soi sáng hướng dẫn của Ngài.
 
Câu hỏi
Câu 1: Bạn hãy cho biết thân thế của tổ phụ Áp-ra-ham và việc Thiên Chúa kêu gọi ông như thế nào?
Câu 2: Nội dung Giao Ước mà Thiên Chúa ký kết với Áp-ra-ham gồm 3 điểm then chốt nào?
Câu 3: Thiên Chúa có thử thách cụ tổ Áp-ra-ham không? Ông đã trung thành đáp trả lời mời gọi Giao Ước của Thiên Chúa như thế nào?
Câu 4: Bạn hãy kể đôi nét về tổ phụ I-xa-ác, Gia-cóp và Giuse.

 
Bài 6
NGÔN SỨ MÔ-SÊ VÀ HÀNH TRÌNH  XUẤT AI-CẬP
 
Dẫn nhập
Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa thứ nhất với Áp-ra-ham qua việc toàn bộ gia đình Gia-cóp định cư và phát triển tại Ai-cập. Nếu dân Ít-ra-en cứ sinh sôi nảy nở và bám chặt vào châu thổ sông Nin đất Ai-cập, thì lời hứa thứ hai sẽ thực hiện thế nào? Ta hãy theo dõi chương trình Thiên Chúa thực hiện tiếp theo, để hoàn thành kế hoạch cứu độ của Ngài.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Thiên Chúa của các tổ phụ soi sáng tâm trí, để ta dõi theo chương trình cứu độ của Ngài .
1. Kế hoạch giải phóng Ít-ra- en của Thiên Chúa
Qua 4 thế kỷ cư ngụ ở Ai-cập con cháu của Gia-cóp đã sinh sôi nảy nở ra nhiều. Do đó, nhà vua và dân Ai-cập sinh lòng nghi kị, sợ họ sẽ lấn áp dân tộc bản địa, nên đã tìm kế ngược đãi dân Ít-ra-en. Các con trai của Ít-ra-en sinh ra đều bị giết. Trong cảnh cùng khốn đó, dân Ít-ra-en mới cầu khẩn Thiên Chúa của các tổ phụ đến cứu giúp. Thiên Chúa đã an bài chọn Mô-sê để thực hiện chương trình cứu dân.
a. Mô-sê được tuyển chọn làm vị cứu tinh dân tộc * (x.Xh 2)
Mô-sê là đứa trẻ may mắn, thoát chết và được nuôi dạy trong triều đình Pha-ra-ô theo chế độ của một hoàng tử (câu chuyện Mô-sê được cứu ...).
Mô-sê lớn lên và nhận ra sự thật về gốc gác của gia đình mình, ông bênh vực cho đồng bào của mình qua việc giết một người Ai-cập. Sau đó, ông phải trốn đi ẩn náu tại xứ Ma-đi-an. Ở đó, ông làm nghề chăn chiên thuê cho người Ma-đi-an. Ông lấy vợ và định tâm sẽ sinh sống tại đó.
Chính khi sống lưu lạc  bên bán đảo Xi-nai, tưởng chừng phải tị nạn suốt đời ở đó thì Mô-sê lại được Thiên Chúa của cha ông tỏ mình ra với ông.
b. Sứ mạng của Mô-sê
Ơn gọi của Mô-sê được thuật lại trong sách Xuất Hành chương 3 và chương 4. Ông được Thiên Chúa hiện ra trong bụi gai bốc cháy, được Thiên Chúa tuyển chọn làm vị cứu tinh cho dân tộc, và được Thiên Chúa mạc khải Thánh Danh của Ngài:
EGO SUM QUI SUM =TA LÀ ĐẤNG TA LÀ
(Xh 3,14).
Sau khi gặp được Thiên Chúa, Mô-sê ý thức được sứ mệnh đối với đồng bào của mình. Ông trở lại Ai-cập để đưa dân tộc mình ra khỏi đó, theo lệnh truyền của Thiên Chúa.
Quyền năng của Thiên Chúa thể hiện qua Mô-sê đã buộc Pha-ra-ô phải để cho dân Ít-ra-en xuất khỏi Ai-cập sau 10 tai hoạ khủng khiếp: (x.Xh 7,1-12,34)
1. Nước hoá thành máu. 6. Ung nhọt.
2. Ếch nhái. 7. Mưa đá.
3. Muỗi. 8. Châu chấu.
4. Ruồi nhặng. 9. Cảnh tối tăm.
5. Ôn dịch. 110. Giết các con đầu lòng của Ai-cập.
2. Thiên Chúa mạc khải
a. Qua lời nói
Thiên Chúa cho ta biết Thiên Chúa của các tổ phụ dân Ít-ra-en là Thiên Chúa Duy Nhất, Tự Hữu, Toàn Năng, Trung Thành với Giao Ước. Đây là mạc khải độc đáo của Do Thái  giáo từ thế kỷ XIII trước Công nguyên. Còn các dân tộc khác thì mãi tới thế kỷ V trước Công nguyên, triết học Hy-lạp mới suy luận ra Thiên Chúa Độc Nhất, Siêu Việt.
b. Qua hành động
Thiên Chúa không chỉ mạc khải bằng lời nói mà thôi, nhưng Ngài còn thể hiện quyền năng của Ngài qua hành động.
Khi dân Ít-ra-en đang là một dân nô lệ Ai-cập, Thiên Chúa đã dùng Mô-sê thương lượng với vua Ai-cập để dân Ít-ra-en được xuất khỏi Ai-cập. Quyền năng của Thiên Chúa được biểu lộ qua Mô-sê đã thúc bách Pha-ra-ô sớm thực hiện cuộc phóng thích đó: cụ thể là qua các tai ương mà dân Ai-cập phải chịu.
Như vậy, Thiên Chúa đã dùng cánh tay hùng mạnh để giải phóng dân Ngài nhờ biến cố Vượt Qua: Trong đêm dân Ít-ra-en ăn bữa tiệc chiên, thiên thần Chúa đã rảo khắp nước Ai-cập, giết tất cả các con đầu lòng của Ai-cập, cả người cũng như thú vật, khiến vua Ai-cập phải cho dân Ít-ra-en ra đi. Mô-sê rẽ nước Biển Đỏ cho dân Ít-ra-en băng qua, còn binh lính Ai-cập đuổi theo thì bị nước ập xuống cuốn đi (x.Xh 12,1-15,21).
Kết luận
Như vậy, qua các biến cố trong cuộc đời các tổ phụ Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp, Giuse và Mô-sê Thiên Chúa đã tự mạc khải Ngài là Đấng Tự Hữu, Hiện Hữu, Hằng Hữu, là Đấng hùng mạnh giải phóng dân, Đấng trung thành giữ Giao Ước với các tổ phụ. Ngài tỏ quyền năng của Ngài qua cả lời nói cũng như trong hành động.
Gợi ý cầu nguyện: Xin Thiên Chúa của các tổ phụ dân Ít-ra-en, cũng là vị Thiên Chúa luôn hiện hữu, ban cho ta được lòng tin vào quyền phép của Ngài như Mô-sê xưa.
 
Câu hỏi
Câu 1: Tại sao dân Ít-ra-en sau 400 năm được yên ổn và phát triển mạnh mẽ bên Ai-cập, sau đó Chúa lại để họ bị dân Ai-cập ngược đãi?
Câu 2: Bạn hãy kể lại cuộc đời của ngôn sứ Mô-sê. Thiên Chúa trao sứ mệnh gì cho ông?
Câu 3: Thiên Chúa mạc khải tên của Ngài là gì cho Mô-sê? Ý nghĩa Danh Thánh đó là gì? Tại sao mạc khải đó lại được gọi là mạc khải độc đáo trong lịch sử nhân loại?
Câu 4: Thiên Chúa mạc khải cho dân Ít-ra-en qua lời nói và qua hành động như thế nào?
 
Bài 7
THIÊN CHÚA MẠC KHẢI CHO MÔ-SÊ
Dẫn nhập
Tháng thứ ba kể từ khi ra khỏi Ai-cập, Mô-sê đưa dân đến chân núi Xi-nai. Thiên Chúa kêu gọi Mô-sê lên núi 40 ngày đêm và mạc khải cho ông biết ý định Chí Thánh của Ngài để cứu độ dân (x.Xh 19).
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Thiên Chúa soi lòng mở trí, để ta cùng với dân Ít-ra-en đón nhận Mạc Khải và thuận tình ký kết Giao Ước với Ngài.
1. Mạc khải về sáng tạo (x.St 1)
Thiên Chúa  của tổ phụ Áp-ra-ham bắt đầu tỏ cho Mô-sê biết chính Ngài là Đấng sáng tạo vũ trụ và con người, là Đấng Tạo Hoá mà con người phải tôn thờ. Như vậy, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en cũng là Chúa của cả vũ trụ và cả loài người  chúng ta nữa.
Mô-sê mô tả Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ trong sáu ngày, chia thành hai đợt song song, mỗi đợt ba ngày. Đợt đầu là công trình tạo dựng những khu vực cố định và phân biệt: ánh sáng - bóng tối, nước trên - nước dưới, đất liền – biển cả. Đợt sau là công trình trang trí, đặt các vật di động vào những khu vực trên, trong đó có con người là chóp đỉnh của công trình tạo dựng.
Một lưu ý quan trọng về công cuộc tạo dựng được mô tả trong 6 ngày. Ngày ở đây không phải như ngày 24 giờ theo nghĩa thông thường. Bởi lẽ, tới ngày thứ tư mới tạo dựng mặt trời - mặt trăng và tinh tú, nên những ngày trước đó không được đo bằng chu kỳ ngày đêm trong 24 giờ. Vậy, ngày của trình thuật tạo dựng có thể dài bằng cả một thời kỳ địa chất, gồm cả hàng triệu năm theo niên lịch của ta bây giờ.
Qua trình thuật công cuộc tạo dựng, chúng ta rút ra những chân lý Thiên Chúa mạc khải sau:
                 + Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất, Siêu Việt có trước muôn loài.
                 + Thiên Chúa không nguyên là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, mà Ngài còn là Thiên Chúa Hằng Hữu, là Tạo Hóa dựng nên muôn loài do quyền năng của Ngài (do Lời Toàn Năng).
                 + Muôn loài trong vũ trụ được Thiên Chúa dựng nên hoàn toàn tốt đẹp. (khoa học tiến bộ ngày càng thấy rõ môi trường sinh thái tự nhiên hoàn toàn cân bằng hài hòa, con người chỉ theo ý  thích của mình phá hoại môi sinh, gây thiệt hại cho chính mình).
    + Con người là chóp đỉnh của công cuộc tạo thành, là hình ảnh của Thiên Chúa vì có lý trí và con tim. Con người được đặt là đại diện Thiên Chúa làm chủ muôn loài muôn vật. Vì thế, con người phải tôn thờ Thiên Chúa bằng cách thế riêng của mình với ý thức và ý chí tự nguyện.
Công cuộc tạo dựng kết thúc, vào ngày thứ bảy Thiên Chúa nghỉ ngơi. Nói như thế, Mô-sê nhằm chú trọng và đặt nền tảng luật nghỉ ngày hưu lễ (Sa-bát). Ông muốn nói rằng Thiên Chúa cũng nghỉ, nhằm dạy con người cũng phải nghỉ  ngày đó.
Nên nhớ, định chế tuần lễ 7 ngày được bắt nguồn từ Mô-sê cách đây khoảng 3200 năm  và không có chế độ nào đã thay đổi được. Lịch sử cho thấy không ít lần người ta đã thay thế nó bằng tuần lễ 10 ngày. Thí dụ: Cách mạng Pháp vào thế kỷ XVIII, hay cách mạng Nga trong thế kỷ XX (vào khoảng thập niên 60) đã làm như thế, nhưng họ đã thất bại vì chỉ ít năm sau lại trở về định chế tuần lễ 7 ngày.
Như vậy, tổ chức sinh hoạt theo tuần lễ 7 ngày chính là đặc điểm của nền văn minh Thiên Chúa Giáo (gồm cả Do Thái  Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo).
2. Mạc khải tạo dựng con người: Nguyên lai và lý do kiếp nhân sinh.
a. Cách thức tạo dựng nên con người (x.St 2).
Mô-sê mô tả Thiên Chúa tạo dựng con người bằng một lối văn ngụ ngôn ẩn dụ như sau: Thiên Chúa lấy bùn đất nặn nên con người, thở hơi sống vào mũi … lấy xương sườn người nam để dựng nên người nữ. Tất cả những cử chỉ đó nói lên rằng Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ. Sự sống con người do Thiên Chúa ban và gần với sự sống của Ngài hơn các loài khác.
Mọi loài Thiên Chúa dựng nên đều tốt đẹp. Riêng con người được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh của Ngài; có lý trí, ý chí và tự do, được Ngài trao quyền làm chủ vũ trụ. Con người được Thiên Chúa dựng nên hoàn toàn hạnh phúc.
b. Con người  sa ngã (x.St 3)
Đau khổ mà con người phải chịu không do Thiên Chúa muốn, nhưng bởi con người lạm dụng tự do đi ngược ý muốn của Thiên Chúa. Con người phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình.
Mô-sê kể lại biến cố này bằng một câu chuyện ngụ ngôn đại ý nói lên: Sau khi tạo dựng con người, Thiên Chúa còn lo cho họ có một nơi sinh sống, gọi là vườn địa đàng (Eden) với đủ điều kiện để sống hạnh phúc. Nhưng con người đã nghe theo lời dụ dỗ của Sa-tan, không vâng phục Thiên Chúa để rồi bị trục xuất ra khỏi vườn địa đàng. Từ đó, con người mất hy vọng sống mãi với Thiên Chúa và phải mang thân phận đoạ đầy của mình.
Qua câu chuyện ngụ ngôn về vườn địa đàng, Mô-sê cho thấy: Trước khi phạm tội con người chỉ biết điều tốt. Trái lại, khi đã ăn quả cây “biết lành biết dữ” mà Chúa cấm, ông bà không chỉ biết điều lành mà còn biết cả điều xấu nữa. Từ đó, lòng dục của họ nổi lên và họ thấy mình trần truồng…       
c. Những buổi đầu của nhân loại sa đọa (x.St 4,1-16)
Vì tội không vâng phục của nguyên tổ mà sự dữ đến thế gian và nó cứ thế lan rộng khắp nơi. Vũ trụ vạn vật như chống lại con người, vì con người không sử dụng chúng theo ý Thiên Chúa, mà theo ý ngông cuồng của mình. Thí dụ như cỗ máy công nghiệp không được vận hành theo đúng qui trình kỹ thuật, sẽ bị hỏng hóc, có khi gây tai nạn cho người điều khiển.
Khi đó, ngay cả hai ông bà cũng đổ  tội cho nhau và hai người con của họ là Ca-in và A-ben sau này cũng chém giết nhau.
Những câu chuyện đó có hai ý nghĩa:
- Ý nghĩa lịch sử: Con người từ thời hái lượm và mẫu hệ (bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình, x.St 3,6) chuyển sang thời trồng cấy (ngươi sẽ phải cực nhọc trong đời ngươi mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra, x.St 3,17) và thời phụ hệ (ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi, x.St 3,16).
- Ý nghĩa tâm linh: Con người bất tuân lệnh Thiên Chúa thì cũng vì dục vọng ích kỷ của mình mà làm hại nhau, làm khổ nhau. Đau khổ của con người không những do vạn vật nổi loạn chống lại con người, mà còn do chính con người vi phạm đến quyền lợi của nhau, người với người là kẻ thù với nhau.
d. Hậu quả của tội nguyên tổ nơi con cháu
Kinh Thánh cho ta biết: “Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng cũng ở đó với mình, ông cũng ăn. Bấy giờ, mắt họ mở ra và thấy mình trần truồng” (x.St 3, 6-7). Ý nghĩa của lời đó không muốn nói là con người không có quần áo, mà là tình trạng trần trụi, nghèo xơ xác, chẳng còn gì cả. Con người phạm tội chống Thiên Chúa, muốn tự làm chủ mình, tự định đoạt đời mình. Họ tưởng họ sẽ được mọi sự, kỳ thực họ ra trắng tay. Họ sợ và trốn tránh mặt Chúa, Đấng trước kia chiều chiều xuống tản bộ trong vườn, dạo chơi thân mật với họ. Thế là hết tình nghĩa. Bây giờ chỉ còn tránh lánh, nếu không muốn nói là địch thù. Họ phải chịu  hình phạt ngay ở đời này, trong chính bản thân và điều kiện sống của mình: ông phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới kiếm được miếng ăn, bà phải đau đớn khi sinh con và phải lụy phục chồng. Hơn nữa, hậu quả của tình trạng này đã gây ảnh hưởng đến toàn thể con cháu (một thí dụ minh hoạ: bố mẹ giàu có đáng lẽ có thể để lại gia sản cho con cháu sống sung túc hạnh phúc, nhưng vì bố mẹ ăn chơi trác táng, cờ bạc phá hết gia sản, thì con cháu cũng bị liên lụy vì tội của bố mẹ mà ra nghèo khổ).
e. Lời hứa cứu độ (x.St 3, 15)
Tuy nhiên, qua trình thuật Thiên Chúa mạc khải cho Mô-sê, ta thấy sau khi con người sa ngã Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người nhưng còn tìm đến với con người (St 3,8) và kêu gọi họ tin tưởng là sự ác sẽ bị đánh bại. Con người sẽ lại được phục hồi phẩm giá vì Thiên Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Thế để giải thoát con người khỏi cảnh nô lệ tội lỗi. Lời hứa đó hàm chứa trong hình ảnh tiên trưng dòng dõi người nữ sẽ đạp dập đầu con rắn là ma quỷ. Lời hứa cứu độ khởi đầu từ đây.
Kết luận
Ta phải có lòng hiếu thảo với Gia-vê là Đấng đã sinh ra ta và muôn loài muôn vật Ngài đã tác tạo cho ta hưởng dùng. Ta phải sử dụng và điều khiển chúng đúng như ý muốn của Thiên Chúa.
Sau này trong Giáo Hội Công Giáo có Thánh Phan-xi-cô Át-si-si cũng đã coi mọi vật trong vũ trụ là anh chị em với nhau: ngài gọi anh mặt trời, chị mặt trăng, anh lửa, chị nước, và tất cả các cây cỏ, chim chóc là bạn.
Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người tốt đẹp và hạnh phúc, còn xấu xa, tội lỗi và đau khổ là do con người lạm dụng tự do chống lại ý Thiên Chúa. Nhưng không phải vì thế mà Thiên Chúa bỏ con người.
Mạc Khải Xi-nai còn hé mở lời hứa cứu độ cho nhân loại. Vì lòng thương xót, Thiên Chúa đã bắt đầu chương trình cứu độ con người ngay từ khi con người vừa mới sa đoạ, và Ngài còn tiếp tục chương trình cứu độ ấy trong lịch sử.
Gợi ý cầu nguyện: Tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa đã mạc khải cho tổ phụ dân Ít-ra-en cũng chính là vị Thiên Chúa sáng tạo trời đất muôn vật và là cội nguồn của loài người. Xin cho ta được biết Ngài và được làm con dân của Ngài.
 
Câu hỏi
Câu 1: Trong mạc khải trên núi Xi-nai, Thiên Chúa cho biết Ngài là Đấng nào đối với vũ trụ thiên nhiên ta đang sống? Vũ trụ mà Thiên Chúa dựng nên từ ban đầu có hoàn toàn tốt đẹp không? Vì sao ta phải tôn trọng thiên nhiên?
Câu 2: Thiên Chúa dựng nên muôn loài trong 6 ngày, và ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi. Vậy ngày nói đây có phải là ngày 24 giờ như hiện nay không? Tại sao?
Câu 3: Trong mạc khải Xi-nai, Thiên Chúa cho ta biết Ngài trực tiếp dựng nên chúng ta như thế nào? Có phải con người là kết quả do quá trình tiến hóa tự nhiên của vật chất không? Nếu có tiến hóa thì tiến trình của nó phải do ai điều khiển?
Câu 4: Tại sao con người được Thiên Chúa dựng nên “nhân chi sơ tính bản thiện”, thế mà ngày nay loài người tội lỗi xấu xa như vậy? Hãy kể lại sự sa ngã của nguyên tổ và nói lên hậu quả của tội đó nơi con cháu là chúng ta. Nếu chúng ta phải chịu hậu quả đó thì có bất công không?

 
Bài 8
GIAO ƯỚC XI-NAI
Dẫn nhập
Trong 40 ngày đêm trên núi Xi-nai, Thiên Chúa đã mạc khải cho Mô-sê biết về nguyên lai của vũ trụ là do chính Ngài tạo dựng một cách hết sức tốt đẹp, và do đó con người phải có nghĩa vụ hiếu kính với Ngài. Trên núi Xi-nai Ngài còn mạc khải cho Mô-sê biết những điều bí ẩn về kiếp nhân sinh mà con người muôn đời hằng thắc mắc: Tại sao con người phải đau khổ và phải chết?
Nếu Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên vũ trụ muôn loài muôn vật kể cả con người, thì con người có bổn phận phải hiếu nghĩa với Thiên Chúa như là gốc tổ của mình. Do đó, Thiên Chúa còn mạc khải để xác định bổn phận của con người đối với Thiên Chúa, và để giúp con người thoát khỏi đau khổ và làm khổ nhau, Thiên Chúa tiếp tục mạc khải cho con người về cách ăn ở, xử thế với đồng loại song song với bổn phận hiếu thảo với Thiên Chúa.
Nội dung mạc khải các luật luân lý này được thể hiện nơi Thập điều của Giao Ước Xi-nai.
1. Diễn tiến Giao Ước (x.Xh 19,1-20,21)
Qua trung gian của Mô-sê, Thiên Chúa đã ban lề luật luân lý của Ngài cho dân Ít-ra-en trên núi Xi-nai. Nòng cốt của lề luật này là mười điều (decalogues). Đó là mười điều giao ước cam kết song phương tự nguyện giữa Thiên Chúa và dân. Thập Điều không phải là một thứ luật cấm đoán tiêu cực, nhưng là một cam kết tự nguyện của đôi bên làm thành một Giao Ước. Giao Ước đó gồm tóm mọi nghĩa vụ của con người đối với Thiên Chúa và với anh em đồng loại đã được khắc vào trong hai bia đá. Thập điều này chia làm hai phần: ba điều trước qui định nghĩa vụ của con người với Thiên Chúa, còn bảy điều sau qui định nghĩa vụ của con người với anh em đồng loại. Dưới sự chứng kiến của dân, Mô-sê đã làm lễ ký kết Giao Ước đó dưới chân núi Xi-nai.
Cách thế ký kết giao ước: Mô-sê công bố Thập Điều trước toàn dân, toàn dân thưa xin tuân hành Giao Ước đó (x.Xh 24,7-8). Mô-sê đã giết bò tế lễ Thiên Chúa, lấy một nửa máu đổ trên bàn thờ, còn một nửa thì ông đem rảy trên đầu dân chúng và nói: “Đây là máu của Giao Ước mà Thiên Chúa đã ký kết với anh em dựa trên những lời này”(x.Xh 24,8).
2. Nội dung Thập Điều
A. Nghĩa vụ của con người đối với Thiên Chúa (x.Xh 20, 2-11)
Điều 1: Gia-vê là Thiên Chúa độc nhất của Ít-ra-en và Ít-ra-en không được thờ một thần nào khác ngoài Ngài. Phải yêu mến Ngài hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn và trên hết mọi sự (x.Xh 20,2-3).
Điều 2: Không được tạc tượng hay vẽ hình để mà thờ, dù là hình ảnh của Gia-vê hay bất cứ thần nào (tôn kính Danh Thánh Chúa và những người, những vật đã được thánh hiến cho Thiên Chúa). Không được dùng Danh Gia-vê làm điều hư, điều giả trá như thề gian, làm phù thuỷ hay nói phạm thượng (x.Xh 20,4-7).
Điều 3: Phải tuân giữ luật ngày Sa-bát, vì ngày đó đã được thánh hiến cho Thiên Chúa (x.Xh 20, 8-11). Giữ luật ngày hưu lễ là lợi ích cho chính con người, tạo sự cân bằng thể lý, tinh thần cũng như tình cảm. Sau này Đức Giêsu cũng nói: “Ngày Sa-bát được lập ra vì con người …”(Mc 2, 27-28).
B. Nghĩa vụ con người đối với nhau (x.Xh 20,12-17)
Bảy điều sau của Thập Điều nhắm đến bổn phận con người đối với nhau theo thánh ý Thiên Chúa: Nhân loại là anh em, phải thương yêu nhau. Hầu hết các luật này thuộc luật tự nhiên mà ai ai cũng phải giữ nhằm giúp cho đời sống xã hội được công bình như: luật cấm gây thiệt hại về vật chất, gây thương tích, giết người, kiện cáo, mua bán nô lệ. Lại có những luật nhằm nâng đỡ người túng thiếu. Những luật đó được gồm tóm trong năm điều tôn trọng tha nhân:
Điều 4: Tôn trọng địa vị của nhau (diễn giải…).
Điều 5: Tôn trọng mạng sống của nhau (nt).
Điều  6: Tôn trọng tiết hạnh của nhau (nt).
Điều 7: Tôn trọng tài sản của tha nhân (nt).
Điều 8: Tôn trọng sự thật  thanh danh của nhau (nt).
Còn Điều 9Điều 10 nhắc bảo khi thực thi lề luật không chỉ giữ bên ngoài mà phải giữ trong lòng nữa, vì Thiên Chúa thấu suốt mọi sự.
Kết luận
Như thế, mạc khải Xi-nai, trong đó có Thập điều lề luật, dẫn đến một Giao Ước mà Thiên Chúa đã ký kết với con người.
Ngài đã giúp con người tìm lại hạnh phúc bằng cách ký kết với con người một Giao Ước tình yêu để họ tuân giữ và vì thế, đạo của dân Ít-ra-en là đạo Giao Ước. Đời sống của dân tộc Ít-ra-en từ đó về sau đều xoay quanh chủ đề Giao Ước. Kinh Thánh Cựu Ước được viết ra cũng xoay quanh chủ đề Giao Ước đó.
Luật Giao Ước Xi-nai (còn gọi là Luật Mô-sê) đã là một định chế có tính thiên linh đầy khôn ngoan và hài hoà cho xã hội  loài người. Điều đó đã được lịch sử chứng minh.
Thập Điều Giao Ước sau này Đức Giêsu không phá bỏ mà Ngài kiện toàn. Do đó, ai tự nguyện trở nên tín hữu đạo Chúa, thì sẽ giữ Thập Điều này (đề nghị học thuộc kinh Mười Điều Răn).
Gợi ý cầu nguyện: Xin Thiên Chúa Đấng đã trung thành giữ Giao Ước với dân Ít-ra-en xưa, giúp ta  thực thi Thập Điều Giao Ước như lề luật của tình yêu, trung thành với Đấng tạo dựng nên mình, để tìm ra được con đường cứu khổ và dẫn tới hạnh phúc thật.
 
Câu hỏi
Câu 1: Nếu Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ muôn loài muôn vật thì ta phải có nghĩa vụ thế nào với Ngài? Nếu Ngài là độc nhất và thiêng liêng vô hình, thì ta phải tôn thờ Ngài thế nào?
Câu 2: Tuần lễ 7 ngày có từ bao giờ? Tại sao toàn thế giới dù lương hay giáo cũng đều theo tuần lễ 7 ngày? Có thể huỷ bỏ tuần lễ 7 ngày không?
Câu 3: Hãy nêu lý do và nội dung của 7 điều răn sau trong Thập Điều Giao Ước.
Câu 4: Mười điều răn trong đạo Thiên Chúa có từ bao giờ? Đó là Mười điều luật hay Mười điều khuyên? Chúng tóm lại về hai điểm then chốt nào?

 
Bài 9
DÂN CHÚA VỀ ĐẤT HỨA, ĐỊNH CƯ VÀ  LẬP QUỐC
 Dẫn nhập
Sau khi đã ký kết Giao Ước Xi-nai với dân Ít-ra-en, Thiên Chúa bắt đầu dùng Mô-sê huấn luyện dân sống theo nề nếp luật Giao Ước và thanh tẩy họ khỏi những vết tích ngoại giáo đã bị lây nhiễm bên Ai-cập. Tiến trình thanh luyện được Thiên Chúa  thực hiện 40 năm  trong hoang địa trên đường về đất hứa.
Chính trong giai đoạn này, Thiên Chúa đồng hành với gia tộc Ít-ra-en trong tiến trình trở thành một dân tộc, sống tinh thần một tôn giáo, qua giai đoạn thể chế bộ tộc cát cứ (thời các thủ lãnh) để tiến tới lập nền quân chủ.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Thiên Chúa dẫn dắt và thanh tẩy ý hướng của ta trên con đường đi tìm về đạo thánh, như xưa Chúa đã dẫn dắt và thanh tẩy dân Chúa chọn.
1. Thử thách của Giao Ước (x. Đnl 8-11)
Mô-sê  là người được Chúa chọn để dẫn dắt dân Chúa từ Ai-cập qua hoang địa trở về đất hứa.Vai trò của Mô-sê là thay mặt Chúa nói với dân, đại diện cho dân nói với Chúa.
Bốn mươi năm trong hoang địa là thời gian huấn luyện và thanh lọc dân Chúa. Số 40 là con số tượng trưng, muốn nói đến sự tròn đầy, chỉ một khoảng thời gian đủ để Thiên Chúa thanh luyện dân Ít-ra-en (không hẳn con số thực tế là chẵn 40 năm. Cũng như kiểu nói tiếng Việt quen nói tròn chục, tròn trăm “hai năm mươi” chứ chưa hẳn đúng số chẵn).
Sống ở đất Ai-cập, dân Ít-ra-en đã bị ảnh hưởng nền tôn giáo đa thần thờ ngẫu tượng và những thói tục ngoại giáo. Nhưng sau 40 năm thế hệ lớn tuổi qua đi, một thế hệ mới trẻ trung lớn lên không còn biết gì về Ai-cập nữa. Họ được tập huấn sống theo lề luật Giao Ước để trở thành một dân mới của Thiên Chúa.
Thiên Chúa đưa dân vào hoang địa khô cằn để thử thách dân; trong hoang địa họ không thể trông vào ai khác ngoài Thiên Chúa. Ngài quan phòng cho họ có ăn (man-na trên trời rơi xuống) có uống (nước từ tảng đá vọt ra). Nhờ đó, Thiên Chúa dạy họ chỉ cậy trông vào một mình Ngài thôi (x.Xh 16-17). 
Thiên Chúa luôn trung thành với Giao Ước, mặc dù nhiều khi dân còn quen nếp ngoại giáo phản nghịch với Giao Ước: khi dân phản bội, kêu trách Chúa, Chúa đánh phạt để dạy dỗ, khi dân hối cải Chúa lại xót thương nhờ trung gian bầu cử của Mô-sê (câu chuyện con Rắn Đồng Ds 21,4-9).
Cao điểm của thử thách là biến cố thăm dò đất hứa. Dân có đủ tin vào Thiên Chúa của mình trước sự vững mạnh của các dân bản địa không? (x.Ds 13-14). Cuối cùng, chỉ những ai tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Giao Ước mới được vào đất hứa, cả Mô-sê và A-ha-ron cũng bị thanh lọc không được vào đất hứa. Các ông chỉ hoàn thành sứ vụ dẫn dân trên đường về đất hứa (x.Ds 20,12-13 và Đnl 34,1-9).
2. Chiếm đất, định cư và lập quốc (x.Gs 1-24)
Sau khi Mô-sê qua đời, Giô-suê được Thiên Chúa trao trách nhiệm tiếp tục sứ mệnh của Mô-sê là đưa dân Ít-ra-en vào chiếm lĩnh đất hứa. Đi đến đâu, Giô-suê cho khiêng Hòm Bia Giao Ước tới đó. Với lòng tin tưởng cậy trông vào Chúa, ông và dân đã vào chiếm được đất hứa.
Cách thức mà Thiên Chúa hướng dẫn dân tác chiến thì thực kỳ lạ, khác hẳn sự tính toán thường tình của con người (x.Gs 3-6). Thiên Chúa có ý cho dân hiểu không phải do tài trí hoặc sức mạnh của họ mà họ chiến thắng, nhưng chỉ do quyền phép của Thiên Chúa họ mới thành công (câu chuyện Giô-suê cầu nguyện xin cho mặt trời đứng lại để đánh tan quân giặc x.Gs 10,12-13).
Khi đã chiếm cứ được đất hứa, Giô-suê và dân tái ký kết Giao Ước với Thiên Chúa ở Si-kem (x.Gs 24). Ông nhắc lại những điều Thiên Chúa đã lấy quyền năng uy hùng của Ngài thực thi những kỳ công thể hiện sự trung thành giữ Giao Ước mà Ngài đã ký kết với dân qua Mô-sê. Toàn dân hứa sẽ trung thành giữ Giao Ước và tôn thờ một mình Thiên Chúa (kể lại nội dung ký kết Giao Ước tại Si-kem x.Gs 24, 25-28).
Sau Giô-suê, dân Ít-ra-en định cư thành từng chi tộc, rồi liên hiệp thành quốc gia. Một quốc gia mới chỉ  hợp nhất với nhau về mặt tôn giáo. Thiên Chúa lãnh đạo dân qua trung gian những con người cụ thể mà Ngài tuyển chọn làm ngôn sứ hoặc các thủ lãnh. Đó chính là chế độ thần quyền, một chế độ độc đáo chỉ mình dân tộc Ít-ra-en mới có trong lịch sử.
Qua việc Chúa đưa dân vào định cư và lập quốc ở đất hứa, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là Đấng trung tín với Giao Ước của Ngài. Để lời hứa của Ngài được thực hiện, Thiên Chúa luôn đòi hỏi dân Ngài phải tuyệt đối trung thành với Giao Ước đã được ký kết. Ngài sẽ dùng bàn tay hùng mạnh của Ngài mà cứu giúp họ.
Như thế, ta thấy Lời hứa thứ hai của Thiên Chúa được nhắc lại qua Giao Ước Xi-nai đã thực hiện (dân Ít-ra-en đã chiếm lĩnh miền đất Ca-na-an mà Thiên Chúa đã hứa cho dòng dõi của Áp-ra-ham).
 3. Thời các Thủ lãnh
Thời kỳ này, dân Ít-ra-en sống thành từng chi tộc, chi tộc nào lo cho chi tộc ấy, không có cơ cấu cai trị thống nhất toàn quốc Ít-ra-en. Họ chỉ có một tôn giáo thống nhất là thờ Thiên Chúa Gia-vê, một chế độ luật pháp thống nhất là luật Giao Ước Xi-nai. Khi sống trung thành với lề luật Chúa, dân được bình an; khi phản bội Giao Ước, Chúa để các dân lân bang đến quấy phá. Khi dân phải khốn khó biết hối cải và kêu cầu Chúa, Chúa lại sai những người đến lãnh đạo lập lại kỷ cương giúp họ chống lại giặc ngoại xâm và trung thành giữ Giao Ước. Những vị đó gọi là Thủ lãnh.
Suốt hơn 200 năm, Thiên Chúa đã lần lượt sai đến các thủ lãnh như sau:
Ót-ni-ên (x.Tl 3,7-11) được Chúa chọn để giải phóng dân Ít-ra-en khỏi tay người Cu-san Rit-a-tha-gim, thời vua A-ram.
 Ê-hút (x.Tl 3,12-30), người Ben-gia-min, hạ Ec-lon, thời vua Mô-áp.
 Sam-ga (x.Tl 3, 31) đánh đuổi quân Phi-li-tinh.
 Bà Đơ-vô-ra và ông Ba-rắc (x.Tl 4, 4-10) đánh Gia-vin, vua Ca-na-an. Ghit-on và ông A-vi-me-lếch (x.Tl 6, 7-32) đánh đuổi quân Ma-đi-an.
 Tô-la (x.Tl 10,1-2); Gia-ia (x.Tl 10, 3-5); Gíp-tác (x.Tl 11,1-12,7), đánh người Am-mon.
Íp-xan (x.Tl 12, 8-10); Ê-lôn (x.Tl 12, 11-12); Áp-đôn (x.Tl 12, 13-15); Sam-sôn (x.Tl 13-16) đánh quân Phi-li-tinh.
Các vị này là những người được Thiên Chúa tuyển chọn từ giữa dân tộc Ít-ra-en để chống lại quân xâm lăng (có khi chỉ lãnh đạo một chi tộc cũng có khi nhiều chi tộc).
Thiên Chúa chọn các ông cách rất đặc biệt, khác hẳn với cách của con người. Có vị được Thiên Chúa chọn từ trong lòng mẹ như Sam-sôn (câu chuyện thủ lãnh Sam-sôn x.Tl 13-16). 
Phần các ông rất hoảng sợ và không dám nhận sứ mạng. Thiên Chúa phải chứng tỏ việc tuyển chọn của Ngài bằng dấu lạ họ mới dám nhận sứ vụ (câu chuyện Thủ lãnh Ghit-on đánh quân Ma-đi-an x.Tl 6,33-40).
Cách thức Thiên Chúa hướng dẫn các ông lãnh đạo rất khác lạ. Điều đó chứng tỏ quyền phép Thiên Chúa cứu chữa dân qua các ông, chứ không phải do sự khôn ngoan, tài giỏi của con người. Cuối cùng, họ chấp nhận, thi hành và thành công (x.Tl 7).
4. Sa-mu-en vị thủ lãnh cuối cùng chuyển sang vai trò ngôn sứ
Sa-mu-en vừa là thủ lãnh cuối cùng vừa là ngôn sứ. Ông là cầu nối giữa giai đoạn bộ tộc cát cứ với giai đoạn quân chủ (kể câu chuyện Sa-mu-en x.1Sm 3). Chính ông, sau khi biết được ý Chúa, đã đặt vị vua đầu tiên là Sa-un.
Kết luận
Xét về phương diện lịch sử, giai đoạn các thủ lãnh là thời kỳ quá độ của dân tộc Ít-ra-en chuyển biến từ thể chế du mục sang thể chế định cư, từ chế độ bộ lạc sang chế độ bộ tộc cát cứ, với tất cả những mâu thuẫn và đấu tranh xã hội như đã diễn ra nơi các dân tộc khác vào giai đoạn tương tự của họ. Tuy nhiên, đối với dân Chúa chọn, Ngài đã dùng những biến cố xảy ra theo qui luật tự nhiên để thanh luyện và giáo huấn dân riêng của Ngài. Tác giả sách Thủ lãnh trong pho Kinh Thánh nhìn nhận: Tình trạng còn sót lại một số dân ngoại sống đan xen với Ít-ra-en, là do ý định của Thiên Chúa muốn dùng họ để thử thách lòng trung thành của dân Chúa. Trước những cám dỗ thờ tà thần dân ngoại, Ít-ra-en có giữ vững Giao Ước với Thiên Chúa thì mới tồn tại, nếu phản bội họ sẽ phải diệt vong (x.Tl 2,20-23).
Sự kiện thăng trầm khi thắng khi bại diễn ra hơn 200 năm, trở thành bài học xương máu của lịch sử dạy cho Ít-ra-en biết: chỉ có một con đường sống sót qua thử thách biến động của thời gian, đó là tuyệt đối trung thành với Giao Ước mà Thiên Chúa Gia-vê đã mạc khải cho họ. Đó chính là sức mạnh của họ, là sự khôn ngoan mà họ phải lựa chọn để nên một quốc gia trưởng thành thời quân chủ tiếp theo.
Sau này ta thấy lời hứa thứ ba của Thiên Chúa với tổ phụ Áp-ra-ham sẽ được cụ thể hoá thời dân Ít-ra-en bước sang nền quân chủ. Lời hứa thứ ba đó là qua dòng dõi Áp-ra-ham mà muôn dân thiên hạ sẽ được chúc phúc. Đây là lời hứa Đấng Cứu Thế sẽ ra đời trong dân Ít-ra-en, Ngài sẽ xuất thân từ dòng tộc vua Đa-vít.
 Ta sẽ theo dõi diễn tiến mà Thiên Chúa đồng hành với dân Ngài thời các vua trong bài sau.
Gợi ý cầu nguyện: Xin Thiên Chúa cho ta được ơn soi trí mở lòng, để ta nhìn ra bài học khôn ngoan Thiên Chúa dạy bảo qua những dấu chỉ thăng trầm của lịch sử.
 
Câu hỏi
Câu 1: Con đường từ Ai-cập về đất hứa (Ca-na-an) bình thường chỉ đi hết 15 ngày; vậy tại sao Mô-sê lại được Thiên Chúa hướng dẫn đưa dân đi vòng vo trong hoang địa suốt 40 năm? Trên đường về đất hứa, Thiên Chúa thử thách dân Ngài cao điểm nhất là vào thời điểm nào?
Câu 2: Chúa chọn ai đưa dân Người vào chiếm lĩnh đất hứa? Cách thức và lý do mà Chúa hướng dẫn dân tác chiến có gì khác lạ? Khi chiếm được đất hứa, dân Do Thái có ký kết lại Giao Ước với Thiên Chúa không?
Câu 3: Các thủ lãnh là những ai, Thiên Chúa trao sứ mệnh gì cho các vị? Sách Thánh kể tên bao nhiêu vị thủ lãnh, trong đó nổi bật nhất là những thủ lãnh nào?
Câu 4: Thế nào là chế độ thần quyền trong dân Ít-ra-en thời các thủ lãnh và thời các vua?
                      
Bài 10
VAI TRÒ CỦA CÁC NGÔN SỨ THỜI CÁC VUA
 
Dẫn nhập
Bất cứ một dân tộc nào cũng vậy, để con dân của mình được hạnh phúc và được an cư lạc nghiệp, phải có người hướng dẫn và cai trị. Riêng đối với dân tộc Ít-ra-en  lại khác hẳn, mặc dù họ vẫn có các vua cai trị, nhưng người lãnh đạo chính là Thiên Chúa qua trung gian các ngôn sứ. Chính các ngài mới thực sự là người được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến lãnh đạo dân. Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của các ngài trong thời các vua.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin  Thiên Chúa soi sáng tâm trí, để ta nhận ra được sứ điệp của Chúa nhắn gửi qua các vị trung gian là các ngôn sứ, những con người mà Chúa tuyển chọn.
I. Thứ tự các vua Ít-ra-en
1. Vua Sa-un: 1030 - 1010 TCN ( x.1Sm 11,12-15)
Sa-un thuộc chi tộc Ben-gia-min, được Thiên Chúa sai ngôn sứ Sa-mu-en xức dầu phong vương. Ông chính là người khởi đầu chế độ quân chủ chuyên chế của dân tộc Ít-ra-en (x.1Sm 8-10). Ông bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa khi chiến đấu với quân A-ma-lếch (x.1Sm15,1-9). Ông bị Thiên Chúa ruồng bỏ (x.1Sm15,10-23) và chọn Đa-vít thay thế ông.
Thời vua Sa-un, Thiên Chúa đã phán dạy vua và dân Ít-ra-en qua ngôn sứ Sa-mu-en.
 2. Vua Đa-vít: 1010 - 970 TCN
Vua Đa-vít thuộc chi tộc Giu-đa…(x.1Sb 2,1-15). Ông được Sa-mu-en xức dầu phong vương thay thế Sa-un (x.1Sm 16,1-13).
Nhờ việc xức dầu, Thánh Thần hoạt động nơi ông (câu chuyện Đa-vít chiến đấu với tướng Gô-li-át x.1Sm 17,12-54). Ông đối xử nhân từ với vua Sa-un, mặc dù vua trở mặt và tìm cách giết ông (x.1Sm 24.26).
Đầu tiên chỉ có chi tộc Giu-đa theo Đa-vít. Về sau, tất cả 12 chi tộc cùng trở về với Đa-vít  hợp nhất  thành một vương quốc hùng mạnh. Ông trị vì khoảng 40 năm (x.2Sm 5,1-5).
Đa-vít sa ngã, nhưng đã sám hối nhờ ngôn sứ Na-than. Ông được Thiên Chúa  tha thứ nhưng gặp phải nhiều gian nan khốn khó, nhất là việc Áp-sa-lon nổi lên chiếm ngôi. Trong cơn gian nan thử thách, ông vẫn tỏ ra rất nhân đạo (câu chuyện ông truyền cho binh lính không được giết Áp-sa-lon… x.2Sm 11,1-12,15. 18,12).
Ông xứng đáng được gọi là Thánh Vương Đa-vít. Điều đặc biệt đáng ghi nhớ là Thiên Chúa đã hứa cho ngai báu gia tộc của ông được trường tồn vạn kỷ, nơi Đấng Cứu Thế sẽ xuất thân từ dòng dõi ông: “Từ gốc tổ Giê-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non” (Is 11,1).
Truyền thống thường gán cho ông là tác giả của 150 Thánh vịnh (x.Tv18; 2Sm 22,1-23,7). 
Thời vua Đa-vít, Thiên Chúa đã dùng ngôn sứ Sa-mu-en và ngôn sứ Na-than để lãnh đạo vua và con dân Ít-ra-en.
 3. Vua Sa-lô-môn: 970 - 931 TCN
Vua Sa-lô-môn kế vị vua cha là Đa-vít. Ông là người khôn ngoan nhất thời đó (x.1V 3,4-14), (câu chuyện vụ xử kiện cho hai bà mẹ tranh nhau một đứa con x.1V 3,16-28).
Ông là người xây cất và hoàn thiện đền thờ Giê-ru-sa-lem để tôn thờ Thiên Chúa, một đền thờ nguy nga lộng lẫy (x.1V 6).
Ông đã bất trung với Thiên Chúa: liên hệ với các vua lân bang, lấy các thê thiếp ngoại bang và thờ bụt thần của họ. Ông không giữ Giao Ước của Chúa. Do đó, Thiên Chúa đã hiện ra và báo cho ông biết rằng: vương quốc Ít-ra-en sẽ bị chia rẽ (x.1V 11,1-13).
4. Vua Rơ-kháp-am: 931 - 910 TCN
Vua Rơ-kháp-am là con của vua Sa-lô-môn lên kế vị ngôi cha (x.1V 12,1-5). Ông cai trị dân thiếu khôn ngoan, không theo đường lối cha ông. Ông bắt dân nộp sưu cao thuế nặng, nên đất nước bị chia cắt làm hai vương quốc Bắc -Nam, cả về chính trị lẫn tôn giáo: vương quốc Giu-đa với đền thờ Giê-ru-sa-lem ở phía Nam, vương quốc Ít-ra-en với đền thờ Ga-ri-zim ở phía Bắc (x.1V 12,20-33).
II. Vai trò của  các ngôn sứ
Thời vua nào cai trị cũng vậy, Thiên Chúa luôn sai các ngôn sứ đến để hướng dẫn vua và dân Ít-ra-en. Khi vua và dân Ít-ra-en bất trung với Thiên Chúa. Ngài sai ngôn sứ đến cảnh cáo rồi tiên báo họ sẽ bị Ngài giáng phạt. Nhưng khi họ biết hối lỗi trở về và cầu cứu Ngài, Ngài lại sai ngôn sứ  đến an ủi họ và tiên báo Ngài sẽ thương cứu thoát dân. 
1. Tại vương quốc miền Bắc
 Thiên Chúa sai ngôn sứ Ê-li-a và Ê-li-sa năm 875 trước công nguyên thời vua A-kháp (câu chuyện thách thức giữa Ê-li-a và các sư sãi của thần Ba-an x.1V 18,16-40). Ngôn sứ Hô-sê và A-mót năm 750 trước công nguyên thời vua Gia-róp-am (x.Hs 1,2-9; Am 3).
Thời ngôn sứ I-sai-a I và Mi-kha, vương quốc phía Bắc vì đã không nghe Lời Chúa qua các ngôn sứ cảnh cáo ngăm đe, cố tình đi theo đường gian ác, nên Thiên Chúa đã để cho vương quốc bị tiêu diệt hoàn toàn bởi đế quốc Át-sua. Dân phía Bắc bị đưa đi lưu đày năm 721 trước công nguyên và thất tán không còn hồi phục (x.2V 17,5-7).
2. Tại vương quốc Giu-đa miền Nam
Vua và dân trung thành với luật Giao Ước được một thời gian, rồi cũng bỏ Chúa làm điều gian ác, thờ thần ngoại. Thiên Chúa lần lượt sai các ngôn sứ đến với dân Ngài: I-sai-a, Xô-phô-ni-a, Giê-rê-mi-a, Na-khum, Ha-ba-cúc. Các ông xuất hiện cảnh báo cho các vua và dân chúng vương quốc miền Nam phải hối cải trở về với Thiên Chúa, nhưng họ không nghe. Chúa phạt vương quốc phía Nam bị đế quốc Can-đê đánh chiếm. Giê-ru-sa-lem thất thủ và dân bị đưa đi lưu đày năm 587 trước công nguyên tại Ba-by-lon. Cuối cùng, chỉ còn một số ít người trung thành với Giao Ước của Thiên Chúa được cứu thoát sống sót (x.2V 25,1-21).
 
Kết luận
Vương quốc Ít-ra-en lúc thịnh lúc suy tùy theo vua tôi ăn ở trung tín hay bất trung với Giao Ước. Từ khi chia rẽ  Bắc-Nam, đất nước bị suy yếu rồi sụp đổ, bị lưu đày, chỉ còn một số sót lại biết hối cải và sẽ được Thiên Chúa giải cứu phục hồi.
Chế độ thần quyền: Suốt dòng lịch sử thăng trầm ấy, tuy Ít-ra-en có vua lãnh đạo như các dân lân cận đương thời, nhưng Thiên Chúa vẫn lãnh đạo dân Ngài qua các ngôn sứ. Các ông là những người được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến đúng lúc để cảnh báo việc Ngài sẽ thực hiện kế hoạch “Tội-Phạt-Hối-Cứu” và tiên báo hồng ân thương xót chung cục, là thực hiện lời hứa sẽ gửi Đấng Thiên Sai đến “khi thời gian viên mãn”.
Tiên tri là một ơn đặc biệt Chúa ban cho các ngôn sứ, nên người ta còn gọi ngôn sứ là tiên tri. Các ông được Thiên Chúa soi sáng cho biết trước tương lai và thông báo cho dân Chúa. Khi các lời đó ứng nghiệm, dân Chúa mới biết các ông là người được Chúa sai đến.
Gợi ý cầu nguyện: Xin Thiên Chúa mở lòng, mở trí cho ta được hiểu biết những lời Thiên Chúa phán dạy qua các ngôn sứ của Ngài. Xin Ngài cũng xót thương dẫn dắt ta đi theo đường Ngài chỉ dẫn, qua các biến cố thăng trầm của cuộc sống nhân sinh.
 
 Câu hỏi
Câu 1: Hãy kể lại thân thế và vai trò của Sa-mu-en trong giai đoạn chuyển tiếp từ thời các thủ lãnh sang thời các vua trong lịch sử dân Ít-ra-en? Thiên Chúa hướng dẫn vua và dân Ngài qua những vị trung gian nào? Ngôn sứ là ai?
Câu 2: Thời vua Sa-un và vua Đa-vít, Thiên Chúa dùng vị ngôn sứ nào? So sánh  Sa-un và Đa-vít, cả hai đều lỗi phạm, vậy vì lý do gì một người bị loại và một người được chọn?
Câu 3: Vì sao Sa-lô-môn được gọi là vị vua khôn ngoan? Ông có trung thành được đến cùng không? Ông sa ngã vì lý do gì?
Câu 4: Vì sao nước Ít-ra-en lại bị chia cắt làm 2 vương quốc: Bắc - Nam. Tên của mỗi vương quốc là gì?

 
Bài 11
DÂN TỘC MANG LỜI HỨA  ĐẤNG CỨU TH
 Dẫn nhập
Khi định cư tại đất hứa Ca-na-an, dân Ít-ra-en còn mang nặng tư tưởng tà giáo, thờ các thần ngoại bang và lỗi lời thề ước với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến sửa dạy, kêu gọi họ trở về và trung thành với Giao Ước. Nhưng họ không nghe, nên Ngài đã đánh phạt họ, để cho đế quốc Ba-by-lon  xâm chiếm và dân bị lưu đày. Ở nơi lưu đày, một số ít còn sống sót trong dân biết sám hối, quay trở về với Giao Ước. Thiên Chúa lại ra tay cứu thoát và cho họ hồi hương.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Thiên Chúa xưa đã nhẫn nại sửa dạy dân Ít-ra-en, nay cũng dẫn dắt sửa dạy, để ta đáng lãnh nhận ơn cứu độ  của Chúa.
1. Thời kỳ lưu đày ở Ba-by-lon: (587 - 538 TCN)
Năm 587 trước công nguyên, vua Na-bu-cô-đô-nô-xo chiếm Giê-ru-sa-lem, đốt phá đền thờ và bắt tất cả những người có thế giá, có nghề nghiệp chuyên môn và khoẻ mạnh trong dân đi lưu đày tại Ba-by-lon (x.2V 25,1-21).
Số người bị lưu đày ở Ba-by-lon cảm thấy nhục nhã nên đã hối cải. Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến với họ, để động viên, an ủi và loan báo giải thoát: I-sai-a II, Ê-dê-ki-en (x.Is 4,2-5; Ed 11,14-21; Is 42-44).
Nhờ những vị  ngôn sứ đó, tinh thần của dân Do Thái được phục hưng và họ quyết tâm trở về với Thiên Chúa.
2. Thời hồi hương
Sau khi dân đã ăn năn sám hối và kêu cầu Chúa, Ngài đã cứu họ cách rất kỳ diệu:
Năm 539 trước công nguyên, Ky-rô vua Ba-tư chiếm Ba-by-lon, phá tan đế quốc Can-đê.
Năm 538 trước công nguyên, ông đã ra sắc chỉ cho phép dân Do Thái lưu đày được hồi hương, tái  thiết đền thờ và cho họ được tự do thờ phượng Thiên Chúa (x.Er 1,1-6).
Trong bối cảnh này, Thiên Chúa đã cho ngôn sứ Khac-gai, Da-ca-ri-a, I-sai-a III, Áp-đi-a, Ma-la-khi và Giô-en đến để động viên và dẫn dắt dân Chúa trong công cuộc trùng tu Giê-ru-sa-lem và tái thiết đền thờ; phục hưng đời sống luân lý sống theo thánh luật Giao Ước. Nơ-khe-mi-a và thầy Ét-ra cùng toàn dân ký kết lại Giao ước với Đức Gia-vê. Các ngôn sứ cũng rao giảng để chuẩn bị cho dân đón nhận cuộc thử thách đức tin tiếp theo và nói về vị tiền hô của Chúa.
Năm 336 trước công nguyên, A-lê-xan-đê đại đế của đế quốc Hy-lạp lật đổ đế quốc Ba-tư và đô hộ xứ Giu-đê-a.
Khi A-lê-xan-đê băng hà, đế quốc Hy-lạp được chia làm 4 phần, Giu-đê-a thuộc quyền  đô hộ của Ai-cập.
Năm 198 trước công nguyên, Giu-đê-a thuộc quyền độ hộ của Xy-ri-a.
Năm 170 trước công nguyên, An-ti-ô-khô ra sắc chỉ cấm đạo Do Thái, bắt mọi người cúng tế bụt thần dân ngoại.
Năm 166 trước công nguyên, anh em Ma-ca-bê đã đứng lên chống lại vua An-ti-ô-khô,  giành lại  độc lập và củng cố mọi vấn đề cho dân tộc mình (kéo dài được khoảng 100 năm x.1Mcb 3,1-9,22).
Năm 63 trước công nguyên, tướng Pom-pê của đế quốc Rô-ma đã chiếm Giê-ru-sa-lem, đặt nền đô hộ lên xứ Giu-đê-a do một quan tổng trấn thay mặt hoàng đế Rô-ma cai quản.
Năm 37 trước công nguyên, hoàng đế đặt Hê-rô-đê cả làm tiểu vương xứ Giu-đê-a.
3. Niềm mong đợi Đấng Cứu Thế trong bối cảnh xã hội Do Thái đương thời
Trong hoàn cảnh khổ cực, dân Do Thái phải sống dưới ách đô hộ của ngoại bang, đồng thời họ rất khổ tâm, cùng quẫn vì cảnh đồi phong bại tục, bất công bóc lột của xã hội Do Thái, họ mong đợi sớm được giải cứu. Từ đó, họ lục tìm lại tất cả các lời tiên tri đã tiên báo về Đấng Cứu Thế:
a. Lời hứa nơi các tổ phụ và các vua (theo lịch sử Mạc Khải).
- Với Áp-ra-ham: một dòng dõi đông đúc, một miền đất hứa làm gia nghiệp và lời chúc phúc cho muôn dân qua dòng tộc ông (x.St 15).
- Với Gia-cóp: Đấng Cứu Thế xuất thân từ chi tộc Giu-đa (St 49,8-10).
- Với Mô-sê: lời hứa ban Đấng Cứu Thế được Thiên Chúa mạc khải từ khởi nguyên, ngay sau khi nguyên tổ sa ngã: dòng dõi người nữ sẽ đạp dập đầu con rắn (x.St 3,14-15).
- Với Đa-vít: dòng tộc vua tồn tại mãi mãi, qua thân thế Đấng Cứu Thế thuộc dòng dõi vua (x.2Sm 7,14-16).
b. Lời hứa qua các ngôn sứ
- Với I-sai-a I: loan báo về chính Đấng Cứu Thế sinh bởi người trinh nữ (x.Is 7,14).
- Với Mi-kha: loan báo địa điểm Đấng Mê-si-a sinh  ở Bê-lem (x.Mk 5,1).
- Với Đa-ni-en: loan báo về thời gian, sau hồi hương thì Đấng Mê-si-a sẽ ra đời (bảy mươi tuần năm x.Đn 9,23-24).
- Với Ma-la-khi: ngôn sứ Ê-li-a sẽ tái thế dọn đường cho Đấng Mê-si-a (x.Ml.3, 23-24). Ê-li-a sống vào khoảng thế kỷ thứ VIII trước công nguyên.
c. Bối cảnh xã hội: về chính trị, tôn giáo, luân lý
Sau hồi hương, hai luồng tư tưởng mong đợi Đấng Cứu Thế xuất hiện trong dân Do Thái.
- Phái mong đợi Đấng Cứu Thế vinh quang trần thế (đánh Đông dẹp Bắc), cho họ được bá chủ hoàn cầu. Tiêu biểu là nhóm Pha-ri-sêu và Sa-đốc.
-  Phái mong đợi Đấng Cứu Thế đến giải phóng tâm linh, phục hồi luân thường đạo lý và xoá sạch những điều bất công đang xảy ra trong xã hội. Phái này được gọi là những người nghèo khó của Đức Gia-vê (trong đó có Maria, Giuse, Da-ca-ri-a, v.v…).
Kết luận
Dân Do Thái sống rên xiết dưới ách ngoại bang, họ mới suy gẫm lời tiên tri về các dấu chỉ, thời điểm, nơi chốn và hoàn cảnh Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra. Hơn nữa, thời lệ thuộc đế quốc Rô-ma, tiểu vương Hê-rô-đê không thuộc dòng tộc Đa-vít cai trị chính là dấu chỉ rõ nét tiên báo thời Đấng Cứu Thế ra đời.  Từ đó, họ nóng lòng chờ đợi ngày được giải thoát.
Như vậy, Lời Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, với Mô-sê, với Đa-vít, qua các ngôn sứ thời trước, trong và sau thời lưu đày đã đúc kết thành những lời hứa và hình ảnh  tiên tri rõ nét về Đấng Mê-si-a sẽ ra đời.
Gợi ý cầu nguyện: Xin dâng lên Gia-vê Thiên Chúa tâm tình mong ước chờ đợi Đấng Cứu Độ đến với mỗi người, hợp với tâm tình mong đợi Đấng Mê-si-a của dân Chúa xưa.
 
Câu hỏi
Câu 1: Vương quốc miền Nam (Ít-ra-en) bị sụp đổ vào năm nào? Với biến cố nào? Tại sao thành Thánh Giê-ru-sa-lem bị phá huỷ và dân phải đi lưu đày. Thiên Chúa có bỏ rơi dân Ngài không?
Câu 2: Dân Chúa bị lưu đày bao nhiêu năm bên đất Ba-by-lon? Họ được hồi hương do biến cố kỳ diệu nào? Trong thời tái lập quốc gia Do Thái này, Thiên Chúa đồng hành với Dân Chúa như thế nào?
Câu 3: Từ ngày tái lập quốc gia Do Thái cho đến hết giai đoạn trước công nguyên có những biến cố chính trị nào xảy ra làm đảo lộn tình thế của Dân Chúa.
Câu 4: Căn cứ vào những lời hứa, những lời tiên tri nào nơi các tổ phụ và các ngôn sứ, dân Do Thái chờ đợi và tiên đoán thời điểm, địa điểm và hoàn cảnh Đấng Cứu Thế ra đời.

 
PHẦN III
THỰC THI ƠN CỨU ĐỘ
Cuộc đời Chúa Giêsu Kitô
(Từ bài 12 đến bài 15)
 
Bài 12
CON THIÊN CHÚA  XUỐNG THẾ  LÀM NGƯỜI
 Dẫn nhập
Nhìn vào lịch sử cứu độ, ta thấy Thiên Chúa đã ban lời hứa cứu độ ngay khi nguyên tổ phạm tội. Lời hứa ấy tiếp tục được ban qua các tổ phụ và các ngôn sứ. Khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài từ trời xuống thế để thực hiện chương trình cứu độ. Sau đây, ta cùng tìm hiểu việc Con Thiên Chúa xuống thế làm người như thế nào và để làm gì?
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin dâng lên Thiên Chúa những tâm tình khiêm tốn mong chờ Đấng Cứu Thế ngự đến, hiệp ý với “những người nghèo khó của Đức Gia-vê” hai nghìn năm về trước.
1. Bối cảnh lịch sử
Các điều tiên báo trong Kinh Thánh về Đấng Cứu Thế ngày càng được hé mở rõ nét. Toàn dân Do Thái hiệp ý cầu nguyện xin Gia-vê mau ban Đấng Mê-si-a đến cứu giúp. Họ nóng lòng mong chờ mà không thấy dấu chỉ Thiên Chúa viếng thăm. Đã gần một trăm năm trôi qua, dân Do Thái không thấy bóng dáng một vị ngôn sứ nào được Thiên Chúa sai đến; theo truyền tụng thì họ mong chờ ngôn sứ Ê-li-a tái thế để dọn đường cho Đấng Cứu Thế.
2. Gio-an Tiền Hô ra đời
Đang khi dân chúng mong đợi Đấng Cứu Thế đến, thì hài nhi Gio-an ra đời: (câu chuyện truyền tin cho Da-ca-ri-a và sinh nhật Gio-an Tiền Hô x.Lc 1,5-25. 39-79). Gio-an Tiền Hô chính là Ê-li-a tái thế như lời ngôn sứ Ma-la-khi tiên báo (x.Ml.3,23-24).
3. Đức Maria với biến cố truyền tin
Trong số những người nghèo của Đức Gia-vê mong chờ Đấng Cứu Thế đến, có gia đình Gio-a-kim và bà An-na sinh được cô Maria trong lúc tuổi già.
Khi Maria được ba tuổi, ông bà đã dâng cô cho Chúa (biết ơn Chúa cho ông bà cho sinh con trong lúc tuổi già) và để cô ở lại trong đền thờ. Maria tự khấn giữ mình đồng trinh.
Khi Maria đến tuổi trưởng thành, thầy thượng tế đã thu xếp cho cô đính hôn với Giuse (câu chuyện cây gậy khô của thánh Giuse nở hoa tương tự như câu chuyện cây gậy của A-ha-ron nảy lộc x. Ds 17,16-26).
Biến cố truyền tin cho Đức Maria và lời đáp trả “Xin Vâng” của Mẹ đã khởi đầu tiến trình thực hiện Giao Ước Mới. Khi ấy, Đức Maria đã thụ thai Đấng Cứu Thế bởi quyền phép Chúa Thánh Thần (câu chuyện sứ thần truyền tin cho Đức Maria x.Lc 1,26-38). Như thế, lời tiên báo của ngôn sứ I-sai-a nay được thực hiện (x.Is 7,14).
Sau biến cố truyền tin, Đức Maria đi thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét. Khi hai người gặp nhau, Gio-an nhảy mừng trong lòng mẹ, bà Ê-li-sa-bét ngợi khen Đức Maria có phúc. Đức Maria liền cất lên bài ca “Ngợi Khen(Magnificat).
Khi Maria đi thăm bà Ê-li-sa-bét trở về, Giuse thấy Maria có thai. Ông không hiểu nguyên do tại đâu, nên định tâm bỏ đi cách kín đáo. Nhưng ông được thiên thần báo mộng cho biết thai nhi trong lòng Đức Maria chính là Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Sau đó, Giuse vâng lời  đón cô về nhà (x.Mt 1, 18-25).
4. Sinh nhật Chúa Giêsu  (x.Lc 2,1-38)
Giuse và Maria về Bê-lem là cố hương vua Đa-vít để khai tên theo chiếu chỉ của hoàng đế Au-gút-tô truyền kiểm tra hộ khẩu trong toàn đế quốc La-mã.
Khi ấy, Maria đến ngày mãn nguyệt khai hoa và sinh Đức Giêsu nơi máng cỏ tại hang đá ở Bê-lem (người ta đã lấy năm Chúa sinh ra làm mốc tính niên lịch, cho đến nay đã là năm 2005).
Đêm ấy, các thiên thần hát mừng và báo tin cho các mục đồng đến thờ lạy (x.Lc 2,8-20).
Sau tám ngày, con trẻ được cắt bì và đặt tên là Giêsu.
Sau 40 mươi ngày, theo luật của người Do Thái, ông bà đã dâng con vào đền thờ. Ở đó, có ông Si-mê-on và bà An-na đã nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế. Họ đã nói tiên tri về Ngài.
Sự kiện các nhà đạo sĩ theo ánh sao đi tìm để thờ lạy Hài Nhi đã làm cho Hê-rô-đê và cả triều đình xôn xao. Vì lòng ghen tức mà Hê-rô-đê tìm cách giết Hài Nhi Giêsu bằng cách thảm sát tất cả các trẻ em quanh vùng Bê-lem từ hai tuổi trở xuống.
Được mộng báo, Giuse đã đem Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Ai-cập (x.Mt 2,1-23).
Kết luận
Con Thiên Chúa  xuống thế làm người đúng như lời Kinh Thánh tiên báo hàng ngàn năm trước. Nhưng tại sao Con Thiên Chúa lại xuống thế làm người như vậy? Con Thiên Chúa xuống thế làm Người với hai mục đích sau:
a. Để mạc khải cho con người cách trọn vẹn về Thiên Chúa
Khởi đầu thư Do Thái đã nói: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt  1,1-2a).
Vào thời viên mãn này, Thiên Chúa quyền năng vô hình đã hoá thân làm người hệt như chúng ta, trừ tội lỗi, để có thể nói tiếng nói của con người, ăn ở với cung cách của một con người và để dạy bảo con người bằng chính ngôn ngữ của họ. Ngài là Lời của Thiên Chúa ngỏ với loài người. Thiên Chúa làm người để sau này có thể chịu nạn chịu chết cứu độ con người.
b. Để thực hiện chương trình cứu độ mà Thiên Chúa đã hoạch định từ trước
 Khi nguyên tổ sa ngã, Thiên Chúa đã hứa ban Đấng Cứu cùng chia sẻ, hiệp thông và liên đới với loài người, để có thể lập công đền tội cho chúng ta.
Gợi ý cầu nguyện: Cảm tạ Thiên Chúa đã đoái thương hạ cố giáng thế làm người chia sẻ thân phận nhân sinh. Xin cho ta được ơn đức tin như Đức Maria, Giuse, các mục đồng và các nhà đạo sĩ nhìn nhận con trẻ Giêsu là Thiên Chúa.
 
Câu hỏi
Câu 1: Dân Do Thái khát khao mong chờ Đấng Cứu Thế ra đời, họ căn cứ vào những lời tiên tri nào mà biết được địa điểm và thời điểm Đấng Cứu Thế sẽ ra đời? 
Câu 2: Bạn hãy kể lại biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người được thực hiện nơi Đức Maria. Biến cố sinh nhật này xảy ra như thế nào và ở đâu?
Câu 3: Ngày sinh nhật của Đức Giêsu có tầm mức quan trọng như thế nào? Tại sao nói bất kỳ ai dù lương hay giáo đều có liên quan tất yếu với ngày Đức Giêsu sinh ra?
Câu 4: Con Thiên Chúa xuống thế làm người vì những mục đích nào?

 
Bài 13
ĐỜI SỐNG ẨN DẬT VÀ CÔNG KHAI CỦA ĐỨC GIÊSU
Dẫn nhập
Thiên Chúa nhập thể, hoá thân làm người như chúng ta. Ngài đến trần gian để thực hiện chương trình cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa cho các tổ phụ (lời hứa thứ 3 với Áp-ra-ham) là ban vị Cứu Tinh đến giải thoát muôn dân mà các ngôn sứ đã tiên báo. Ngài có tên gọi là Đức Giêsu Kitô. Chính con người của Ngài là mạc khải trọn vẹn của Chúa Cha, đã đến và sống với con người, chia sẻ thân phận làm người, chấp nhận mọi hoàn cảnh vui buồn, sướng khổ của kiếp nhân sinh. Điều đó, chúng ta sẽ thấy khi nhìn lại lịch sử cuộc đời của Ngài.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Đức Giêsu ban ơn soi sáng để ta biết chăm chú theo sát cuộc đời trần thế của Ngài cách đây hơn hai nghìn năm, và nhận thấy dấu chỉ Ngài là Con Thiên Chúa.
1. Thời thơ ấu và sống ẩn dật
Khi từ Ai-cập trở về Na-da-rét (x.Mt 2,19-23), Đức Giêsu sống và lớn lên bình thường như mọi con trẻ khác: học ăn, học nói, tập đi đứng, vất vả lao động để kiếm sống như mọi người dân quê.
Con trẻ Giêsu càng thêm tuổi, càng thêm sự  khôn ngoan và ơn nghĩa trước mặt Thiên Chúa cũng như loài người (x.Lc 2,40).
Trong 30 năm, Đức Giêsu sống âm thầm tại quê hương Na-da-rét không có gì khác thường, ngoại trừ  một tia sáng mạc khải về kế hoạch của Thiên Chúa được hé mở qua biến cố Con Trẻ bị lạc trong đền thờ khi  lên 12 tuổi. “Cha mẹ không biết là con  có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (x.Lc 2, 41-50).
2. Thời công khai
Mục đích Con Thiên Chúa xuống thế làm người là để đích thân mạc khải cho loài người về Thiên Chúa và ban Ơn Cứu Độ cho loài người. Đức Giêsu đã thực hiện việc đó một cách trực tiếp khoảng 3 năm cuối đời, trong sứ mạng rao giảng công khai.
Việc lãnh nhận Phép Rửa của Gio-an tại sông Gio-đan đánh dấu bước khởi đầu sứ mạng rao giảng công khai của Chúa Giêsu (biến cố Gio-an ra rao giảng x.Mc 1,2-8; Lc 3,1-18).
Sau khi Đức Giêsu chịu Phép Rửa: “… vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra và  thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (x.Mc 1, 9-11; Mt 3,13-17; Lc 3,21-22).
Trước khi bắt đầu sứ mạng công khai, Thánh Thần đã dẫn Đức Giêsu vào hoang địa để chay tịnh 40 đêm ngày và chịu ma quỉ cám dỗ. Ngài đã chiến thắng mọi chước cám dỗ (x.Mt 4,1-11; Mc 1,12-13; Lc 4,1-13). Ngài chịu cám dỗ để chia sẻ số phận nhân sinh của ta. Cũng có thể ma quỉ dò thử  xem Ngài có phải là Đấng Mê-si-a không?
a. Sứ mạng rao giảng
Thời gian: Trong khoảng 3 năm đời sống công khai, Đức Giêsu đã hoạt động không ngừng, ban ngày Ngài giảng dạy, ban đêm cầu nguyện với  Chúa Cha.
Địa điểm: Chủ yếu là nước Do Thái và một số miền phụ cận thuộc dân ngoại. Ngài giảng dạy khắp nơi khắp chốn: thành phố - thôn quê, trên núi - dưới biển, trong nhà - ngoài trời, hội đường - tư gia …
Đối tượng: Dành cho tất cả mọi người cần đến ơn Cứu Độ, không phân biệt, loại trừ bất cứ người nào.
Nội dung giảng dạy:
+ Sám hối: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17).
+ Tin vào Tin Mừng: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (x.Mc 1,15).
+ Về Nước Thiên Chúa: Ngài rao giảng về Nước Thiên Chúa bằng các dụ ngôn  (x.Mt 13,1-52;  Mc 4,1-34; Lc 13,18-21. 19,11-27).
+ Công bố Luật Mới: Đức Giêsu tuyên bố Ngài đến không phải bãi bỏ luật nhưng là để kiện toàn lề luật (x.Mt 5,17-48).  Ngài dạy: đừng giận ghét, đừng ngoại tình trong lòng, đừng ly dị, đừng thề, đừng trả thù, phải yêu cả kẻ thù. Tóm lại, yêu như Chúa yêu. Đó chính là
Luật Mới Ngài truyền dạy trong bài giảng trên núi (x.Mt 5-7); điều răn trọng nhất ấy, chính là chóp đỉnh của Hiến Chương Nước Trời (x.Mt 5,1-12; Mt 22,34-40. Mc12,28-34 (Giới thiệu học kinh Phúc thật Tám mối).
Cách thức giảng dạy: Ngài dùng ngôn ngữ bình dân, phù hợp với tầm hiểu biết của mọi người. Ngài thường dùng các dụ ngôn để giảng dạy dân chúng và Ngài giảng như một Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ (x.Mt 7,28-29; Mc 1,21-22; Lc 4,31-32).
b. Các phép lạ
Trong khi giảng dạy Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ kèm theo để chứng tỏ Ngài là Đấng Mê-si-a, là Con Thiên Chúa. Ngài cho kẻ mù được thấy, kẻ què đi được, kẻ điếc nghe được, kẻ chết sống lại, dẹp yên sóng bão, xua trừ ma quỉ. Ngài còn làm một số phép lạ tiên báo hiệu quả lạ lùng của các Bí tích Ngài lập sau này như các phép lạ: hoá nước thành rượu, hoá bánh ra nhiều. Lời Ngài là Lời quyền năng (x.Mt 8,23-27; 9,32-33; Mc 6,34-44; Lc 7,11-17; Ga 2,1-12).
c. Chuẩn bị nền móng Hội Thánh
Để tiếp nối sứ mạng của Ngài về sau, Đức Giêsu đã tuyển chọn 12 tông đồ và các môn đệ, huấn luyện và sai đi rao giảng. Chính họ sẽ là nền móng của Hội Thánh sau này (x.Mt 10,1-4; Mc 3,13-19).
Kết luận
Đức Giêsu đã sống trọn kiếp người ở trần gian khoảng 33 năm để mạc khải trọn vẹn Thiên Chúa cho con người bằng đời sống và lời giảng dạy. Cuộc đời của Đức Giêsu được chia làm hai thời kỳ chính:
- Thời gian chuẩn bị: 30 năm sống ẩn dật ở Na-da-rét, Đức Giêsu muốn tỏ cho ta biết Ngài thực sự là một con người như ta và dạy ta tôn trọng những giá trị nhân bản như Ngài đã tôn trọng.
- Thời gian hoạt động công khai trong khoảng 3 năm: Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng bằng việc chịu Phép Rửa của Gio-an, 40 ngày chay tịnh và cầu nguyện. Ngài đi nhiều nơi, giảng nhiều điều, làm nhiều phép lạ để chứng tỏ cho người ta tin Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng muôn dân hằng mong đợi, Ngài đến để cứu độ trần gian. Cuối cùng, Ngài hoàn tất chương trình cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã hoạch định là hiến thân chịu chết để cứu chuộc nhân loại.
Gợi ý cầu nguyện: Cảm tạ Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người đã mạc khải chân lý cho ta qua đời sống của Ngài, qua lời giảng dạy và các phép lạ Ngài làm. Xin cho ta được ơn biết đón nhận với niềm tin những giáo huấn của Ngài và hết lòng tuân theo.
 
Câu hỏi
Câu 1: Đức Giêsu sống ở trần gian bao nhiêu năm, bao nhiêu năm ẩn dật ở Na-da-rét, bao nhiêu năm ra giảng Đạo công khai? Trong những năm ẩn dật, có biến cố nào quan trọng?
Câu 2: Bạn hãy nêu những biến cố khởi đầu cho công cuộc rao giảng công khai của Đức Giêsu. Khi rao giảng công khai, Ngài rao giảng cho ai và ở đâu?
Câu 3: Nội dung những lời giảng dạy của Chúa qui về 4 điểm nào?
Câu 4: Tại sao Đức Giêsu làm rất nhiều phép lạ? Ngài có chuẩn bị những ai để tiếp nối sứ mạng rao giảng của mình không?

 
Bài 14
ĐỨC GIÊSU KITÔ  MẠC KHẢI TRỌN VẸN CỦA THIÊN CHÚA CHA VÀ MẦU NHIỆM MỘT  THIÊN CHÚA BA NGÔI
Dẫn nhập
Qua đời sống và lời giảng dạy, Đức Giêsu đã mạc khải rất nhiều mầu nhiệm về Thiên Chúa mà trong thời Cựu Ước Thiên Chúa chưa từng mạc khải qua các ngôn sứ. Ta cùng chắt lọc những Mạc Khải mới này đối chiếu với những điều đã được Thiên Chúa tỏ ra trong thời Cựu Ước.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Đức Giêsu ban ơn soi sáng, để ta đón nhận với lòng tin những mầu nhiệm cao siêu Ngài mạc khải. Đọc kinh Sáng soi.
1. Mạc khải trọn vẹn về Thiên Chúa
a. Qua Kinh Thánh Cựu Ước
Kinh Thánh Cựu Ước, Thiên Chúa cho ta biết Ngài là Đấng Duy Nhất, không có Thiên Chúa nào khác nữa. Phẩm tính cao vời của Ngài là thiêng liêng, thông minh, phép tắc, uy hùng đáng kính sợ, thánh thiện vô cùng. Ngài Tự Hữu, luôn hiện hữu mọi nơi, mọi thời. Ngài là Đấng sáng tạo nên vũ trụ hữu hình và an bài trật tự của vạn vật.
b. Trong thời Tân Ước, Đức Giêsu lại mạc khải cho ta biết một khuôn mặt mới của Thiên Chúa
- Thiên Chúa là Cha rất nhân lành hay tha thứ (dụ ngôn người Cha Nhân Lành x. Lc 15).
- Thiên Chúa là Đấng ưu ái, quan phòng cho từng tạo vật. Ngài đã tạo dựng từ nhành hoa, ngọn cỏ đến các loài chim chóc, huống chi con người (x.Lc 12, 22-32).
- Bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu, Thánh Gio-an nói “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8.16). Ngài yêu thương đến nỗi vì yêu mà mờ đi cả những ưu phẩm khác như: thông minh, quyền phép cao sang (vì yêu thương tha thứ mà quên tội lỗi người ta, vì thương xót tội nhân mà như không biết tính toán hơn thiệt…).
- Đức Giêsu còn  mạc khải Thiên Chúa là Đấng sáng tạo thế giới vô hình, đó là các thiên thần, Ngài thường nhắc tới nhiều lần trong khi giảng dạy (x.Mt 25,31; 26,53).
Vậy, Đức Giêsu chính là Thiên Chúa từ trời xuống thế làm người mới có thể mạc khải những điều đó cho chúng ta biết, không những bằng lời nói mà còn bằng những phép lạ kèm theo. Hơn nữa, Ngài còn mạc khải cho chúng ta biết mầu nhiệm cao siêu nhất, đó là Một Thiên Chúa Duy Nhất trong tương quan cộng đồng Ba Ngôi.
2. Mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi
Mầu nhiệm là điều không thể hiểu thấu vì nó vượt quá khả năng hiểu biết của ta, nhưng lại có thật vì chính Đức Giêsu đã mạc khải. Thí dụ: Người kỹ sư thiết kế ra chiếc tivi thì họ hiểu được các kỹ năng của nó, còn cụ già nhà quê thì không thể hiểu được. Cũng vậy, các mầu nhiệm là chân lý có thật nhưng con người không thể hiểu được, vì mầu nhiệm vượt quá sự hiểu biết tự nhiên của con người (câu chuyện thánh Au-gút-ti-nô suy niệm mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi trên bãi biển). Con người phải tin vào các chân lý đó, dựa vào Lời Chúa đã phán bảo ta (đọc kinh Tin).
a. Chúa Cha
Nhân lành và thứ tha (x.Lc 15,11-32); quan phòng (x.Lc 12, 22-32); ưu ái những người bé mọn (x.Mt 19,13-15).
Đức Giêsu dạy ta biết Thiên Chúa là Cha của Ngài và cũng là Cha của chúng ta (x.Ga 20,17; Mt 11,25-27). Lạy Cha chúng con ở trên trời … (x.Mt 6, 9-13). Ngài đến để hoàn tất thánh ý Chúa Cha, thực thi chương trình cứu độ (x.Ga 19,30).
b. Chúa Con
Qua lời dạy của Đức Giêsu, ta biết Ngài là Con Thiên Chúa nhưng Ngài cũng là Thiên Chúa ngang bằng với Chúa Cha (x.Ga 10,30). Ngài bảo Phi-líp-phê: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9). Ngài còn lấy cả cái chết để chứng minh Ngài là Con Thiên Chúa (x. Mc 15,33-39). 
c. Chúa Thánh Thần
Ngài là Đấng an ủi bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Ngài là một Ngôi Vị riêng biệt nhưng luôn kết hiệp với ngôi Cha và ngôi Con trong một tình yêu duy nhất. Ngài không nói gì về mình nhưng chúng ta có thể nhận ra hành động riêng của Ngài qua Kinh Thánh mà Ngài linh hứng, qua đời sống Hội Thánh mà Ngài hướng dẫn, qua phụng vụ bí tích mà Ngài tác động, qua lời cầu nguyện mà Ngài bầu cử cho ta.
Qua lời dạy của Đức Giêsu, ta biết được Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hoá, Đấng Bảo Trợ (x.Ga 14,16-17;16,6-7), là Thần Chân Lý, là Thần Khí Sự Thật (x.Ga 15,26; 16,13); Đấng ban sự sống (x.Ga 4,14); Đấng khai sinh ra Hội Thánh (x.Cv 2,1-4); Thần Khí của Đức Giêsu Phục Sinh. Chúa Thánh Thần hoạt động như  linh hồn của Hội Thánh.
Hình ảnh Một Thiên Chúa Ba Ngôi rút ra từ Mạc Khải:
Chính Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần: khi chịu Phép Rửa (x.Mc 1,9-11); khi biến hình (x.Mt 17,5); khi sai các tông đồ làm Phép Rửa (x.Mt 28,19). Mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Công Giáo, là cội nguồn phát sinh các mầu nhiệm khác. Người tín hữu gia nhập vào Hội Thánh bằng Bí tích Thánh Tẩy nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, sống trong sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi và sau này được hưởng kiến Thiên Chúa Ba Ngôi trên thiên quốc. Hội Thánh dạy tín hữu làm Dấu Thánh Giá nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, để nhắc nhớ họ phải sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong suốt cuộc đời mình. Thực ra trong bản văn Kinh Thánh ta không tìm thấy cụm từ “Một Thiên Chúa Ba Ngôi”. Bởi vì, cụm từ này mãi đến thế kỷ IV sau công nguyên các thánh Giáo phụ mới dùng ngôn từ Triết học để diễn tả mầu nhiệm về Thiên Chúa và dùng trong kinh Tin Kính. Đây là cách diễn tả mầu nhiệm cho đến nay vẫn là có giá trị hơn cả (hình ảnh minh hoạ về Thiên Chúa Ba Ngôi: lửa cháy, sức nóng, ánh sáng; hình tam giác đều …).
Kết luận
 Vậy phải có Đức Giêsu xuống thế làm người mạc khải, chúng ta mới biết rõ ràng về Thiên Chúa là Đấng yêu thương, nhân từ, thứ tha và Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất có Ba Ngôi.
Đức Giêsu còn dạy chúng ta phải yêu thương nhau như Chúa yêu thương chúng ta. Ngài đến để thực hiện chương trình Chúa Cha đã hoạch định và các ngôn sứ đã loan báo. Vì yêu thương, Ngài đã chết để cứu chuộc chúng ta.
Ngày nay, Hội Thánh dạy chúng ta tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa khi làm dấu Thánh Giá: Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Đó là dấu kẻ có Đạo (giới thiệu việc làm dấu Thánh Giá và đọc kinh Sáng soi trước mỗi giờ học).
Gợi ý cầu nguyện: Ta năng làm Dấu Thánh Giá, dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi tâm tình suy phục ngợi khen, và đọc kinh  Sáng danh.
Câu hỏi
Câu 1: Qua lời giảng dạy của các ngôn sứ trong thời Cựu Ước, ta biết được gì về Thiên Chúa? Còn qua lời giảng dạy của Đức Giêsu, ta biết thêm được những gì về Thiên Chúa Cha?
Câu 2: Mầu nhiệm cao cả nhất mà Đức Giêsu mạc khải cho ta về Thiên Chúa đó là mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi. Qua lời dạy của Ngài, ta biết được gì về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần?
Câu 3: Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi ta không thể hiểu được nhưng lại phải tin, như thế có phi lý không? Nêu những thí dụ để minh giải?
Câu 4: Đức Giêsu mạc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi qua những biến cố nào trong đời sống của Ngài? Hội Thánh dạy ta tuyên xưng mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi qua những kinh nào?

Bài 15
ĐỨC GIÊSU TỬ NẠN,  PHỤC SINH, LÊN TRỜI
VÀ TRAO SỨ MỆNH CHO HỘI THÁNH
Dẫn nhập
Trong những bài trước, ta đã biết việc Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập thể làm người nhằm hai mục đích chính yếu:
- Để trực tiếp mạc khải cho ta biết trọn vẹn về chính Thiên Chúa và chương trình cứu độ của Ngài, không qua trung gian các ngôn sứ.
Để Ngài có xác thể như ta, hầu có thể chịu thương chịu khó, chịu nạn chịu chết đền tội thay cho ta. Nếu Ngài cứ ở trên cõi trời cao thì không thể nên đồng hình đồng dạng với ta, chết
thay cho ta để cứu chuộc ta. Bởi vì, con người đã phạm tội, thì không thể tự mình lập công đền tội được mà phải có Đấng trọng vô cùng mới đền thay cho mà thôi. Chính  Đức Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến thực hiện kế hoạch đó qua cuộc Tử Nạn, Phục Sinh và Lên Trời của Ngài. 
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Chúa Thánh Thần ban ơn soi sáng, để ta cảm nhận được lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa qua biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Con (làm Dấu Thánh Giá, đọc kinh sáng soi).
 1. Tử  Nạn và Phục Sinh
Tử Nạn và Phục Sinh là cao điểm trong chương trình cứu độ nhân loại của Đức Giêsu.
a. Lý do Tử  Nạn
+ Lý do bên ngoài:
Trong những năm Đức Giêsu giảng dạy, Ngài đã khiển trách những tệ đoan đương thời để lập lại kỷ cương chính đạo (x.Mt 23,1-26). Tuy nhiên, những nhà cầm quyền đạo đời khi ấy lại là đối tượng bị khiển trách. Do đó, họ đã thù ghét Đức Giêsu và sự đối kháng gia tăng cực độ đã đưa họ đến chỗ âm mưu giết Đức Giêsu (x.Mt 21,23-46; 22,15-46).
Những cuộc đối chất giữa Đức Giêsu và các nhà lãnh đạo Do Thái bao gồm:
- Luật nghỉ ngày Sa-bát: Đức Giêsu hướng đến tinh thần của lề luật, còn  các vị chức sắc chỉ giữ luật vì luật (x.Mt 12, 9-14). 
- Thái độ đối với đền thờ: Đức Giêsu đuổi con buôn, tẩy uế đền thờ bị các vị chức sắc đồng loã lợi dụng (x.Ga 2,13-16; Mt 21,12-13).
- Đức Giêsu tự xưng là Con Thiên Chúa. Do đó, họ kết án Ngài tội phạm thượng (x.Lc 22,66-71; Mc 14,60-65).
- Hình ảnh Đấng Mê-si-a vinh quang trần thế mà họ mong đợi không thấy nơi Đức Giêsu, nên họ không tin Ngài là Đấng Mê-si-a.
- Họ ghen tức vì uy tín và danh tiếng của Ngài, lấy chiêu bài  cứu dân để lên án giết Ngài.
- Đức Giêsu khiển trách các vị chức sắc vì thói giả hình của họ (x.Mt 23,1-36).
- Họ mượn cớ chính trị để dùng tay nhà cầm quyền La-mã kết án tử hình Ngài.
+ Lý do sâu xa bên trong:
Đức Giêsu chịu chết là do tự ý hiến mình để thực hiện thánh ý Chúa Cha và cứu chuộc nhân loại. Ngài chủ động bước vào cuộc thương khó, chứ không phải Ngài không có quyền phép để thoát khỏi. Nhiều lần Ngài đã tiên báo Ngài đi Giê-ru-sa-lem để chịu chết và sẽ sống lại (x.Mt 16,21; 20,17-19). Trong vườn Cây Dầu, Đức Giêsu bảo Phê-rô xỏ gươm vào vỏ, và Ngài tự phó mình cho quân dữ (x.Mt 26,51-52).
Đức Giêsu đã chết để đền tội thay cho chúng ta, dù Ngài không có tội gì. Ngài đã hóa thân làm người, chịu chết để cho loài người thoát khỏi án chết mà được sống muôn đời.
b. Diễn tiến cuộc Tử Nạn
Đức Giêsu vào Giê-ru-sa-lem cách trọng thể (x.Mt 21,1-11; Lc 19,28-38; Mc 11,1-11; Ga 12,12-16). Đức Giêsu lập Phép Thánh Thể (x.Mc 14,22-24; Lc 22,17-20). Đức Giêsu vào Vườn Cây Dầu, bị bắt, bị đánh đòn, chịu đội mão gai và chịu đóng đinh giữa hai người trộm cướp. Đức Giêsu chết và an táng trong mồ đá (x.Mt 26,36-68; 27,27-66). Đức Giêsu lối Đức Mẹ cho thánh Gio-an (x.Ga 19,25-27) (nhấn mạnh đến việc Đức Giêsu chết thật về mặt thể lý).
 c. Chúa Giêsu Phục Sinh
Đức Giêsu đã chết thật (x.Ga 19,31-37). Các Thượng tế và Pha-ri-sêu đắc thắng. Họ đã xin và được Phi-la-tô chấp nhận cho lính canh mộ Đức Giêsu, vì họ đã nghe Ngài nói khi còn sống: “Sau khi chết ba ngày Ta sẽ sống lại(x.Mt 27, 62-66). Và điều gì  đã xảy ra? Chúa Giêsu Kitô thật sự đã Phục Sinh vào rạng ngày thứ nhất trong tuần (câu chuyện các phụ nữ đến thăm mộ Chúa và những lần Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ, x.Mt 28,9-10).
Chúa Giêsu có quyền trên kẻ sống và kẻ chết, cũng như Ngài có quyền trên sự sống và cái chết của chính mình: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10,18a) (các câu chuỵên về việc Chúa cho kẻ chết sống lại, người mù được thấy, người điếc được nghe: x.Mt 8, 16-17; Lc 7, 11-17; Lc 18, 35-43).
Ngôi mộ trống chính là sự kiện chứng minh việc Chúa Giêsu Phục Sinh. Sự kiện này tuy là bằng chứng tiêu cực nhưng khó chối cãi về việc Đức Kitô Phục Sinh (x.Ga 20, 1-10).
Bằng chứng tích cực là những lần sau khi phục sinh ra khỏi mồ Đức Giêsu đã hiện ra với các phụ nữ đang đi đến mộ Ngài để có ý tẩm liệm lại thi hài Ngài cho tử tế, rồi hiện ra gặp gỡ các tông đồ và các môn đệ nhiều lần, có lần tới hơn năm trăm người một trật. Những người đã được găp Ngài sau khi sống lại, đă được ăn uống với Ngài, sờ vào thân thể Ngài, họ đã đổi đời một cách lạ lùng và đã mạnh dạn làm chứng cho biến cố Phục Sinh không một thế lực nào ngăn cản được.
Về việc Phục Sinh của Chúa Giêsu, thánh Au-gút-ti-nô đã đưa ra lý chứng để  phi bác lời phao tin xuyên tạc của lính canh mồ. Họ đã nhận đút lót của các chức sắc Do Thái và nói rằng: “Ban đêm chúng tôi ngủ thì các môn đệ Giêsu đến  lấy trộm xác”. Vậy khi đó lính canh thức hay ngủ? Nếu ngủ thì sao thấy được môn đệ ăn trộm, và ăn trộm thì để xác ở đâu mà không phát hiện? Nếu thức thì tại sao không thi hành công vụ mà bắt kẻ ăn trộm? Trong khi đó các môn đệ lại sợ hết vía đã bỏ trốn đi hết.
d. Tín lý
Mầu nhiệm cứu chuộc: Ngôi Hai Thiên Chúa làm người để chết, cho loài người được sống. Ngài tự Phục Sinh để thân xác loài người ngày sau cũng được thần hóa như Ngài. Mầu nhiệm Phục Sinh là điểm then chốt của Kitô Giáo. Vì  thế, thánh Phao-lô đã nói: Nếu Đức Kitô không sống lại thì việc giảng dạy của chúng tôi là uổng công, vô ích và đức tin của anh em ra hão huyền (x.1Cr 15,12-19).
2. Chúa Giêsu Lên Trời
Sau khi chu toàn sứ mệnh Chúa Cha trao phó là cứu chuộc loài người, Chúa Giêsu trở về với Đấng đã sai mình.
Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với các tông đồ, trước hết là với các phụ nữ (x.Mt 28,9-10) và một số người khác (có lần Ngài hiện ra với hơn 500 người x.1Cr 15,5-8).
Lần cuối cùng, Ngài hẹn các môn đệ lên một ngọn núi cao. Trước mắt các ông, Ngài lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha (x.Mc 16,14-18; Lc 24, 50-53; Cv 1,6-9).
Chúa Giêsu lên trời nghĩa là thế nào? Lên trời không có nghĩa là đi đến một nơi nào đó trong không gian, như người ta thường nghĩ vượt lên trên các tầng mây. Đó chỉ là cách diễn tả rằng: Chúa Giêsu không còn hiện diện bằng xương, bằng thịt như Ngài hiện diện trước đây. Ngài trở về cõi thần thiêng kết hợp với Chúa Cha ngay sau khi Phục Sinh, chứ không phải đợi tới bốn mươi ngày sau.
“Ngự bên hữu Chúa Cha” là kiểu nói để diễn tả Chúa Giêsu được siêu tôn và được tặng ban mọi danh hiệu, uy quyền sau khi Ngài đã tự hạ mình chịu đau khổ và chịu chết trên cây thánh giá (x.Pl 2, 6-11).
Chúa Giêsu sẽ làm gì cho ta khi Ngài lên trời ngự  bên hữu Chúa Cha?
+ Ngài sẽ bênh vực và chuyển cầu cho ta như lời thánh Phao-lô đã nói: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta ai còn chống lại được chúng ta?” (Rm 8, 31).
+ Ngày tận thế Ngài sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết (x.Mt 25,31-46).
Kết luận
Tử Nạn và Phục Sinh là một biến cố duy nhất không thể tách rời nhau. Đó là mầu nhiệm Vượt Qua Mới, được tiên báo qua biến cố vượt qua của dân Do Thái từ cõi nô lệ sang cõi tự do. Việc Chúa sống lại chứng thực cho chúng ta rằng: Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật. Những lời hứa trong Kinh Thánh nay đã được thực hiện. Mọi điều Chúa Giêsu đã nói và làm đều chân thật.
Việc Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa thay đổi vị trí trong không gian vật chất, nhưng là trở về trạng thái thần thiêng. Sự hiện diện của Đức Kitô Phục Sinh từ nay sẽ là thiêng liêng qua các dấu chỉ (Bí tích). Ngài vẫn tiếp tục thi hành chương trình cứu độ con người qua Hội Thánh mà Ngài đã thiết lập và trao cho sứ mạng tiếp tục mãi đến tận thế (x.Mt 28,16-20; Mc 16,14-18; Ga 20,19-23).
Gợi ý cầu nguyện: Mời gọi mọi người cảm tạ Đức Giêsu Kitô đã không nề hiến mạng để đền tội cho loài người và tuyên xưng niềm tin vào việc Ngài sống lại lên trời hiển vinh. Làm Dấu Thánh Giá, đọc kinh  Sáng danh.
 
Câu hỏi
Câu 1: Hãy nói lên những lý do xã hội bên ngoài dẫn đến cuộc Tử Nạn của Đức Giêsu?
Câu 2: Hãy nói lên những lý do chính yếu sâu xa bề trong khiến Đức Giêsu hiến mình chịu chết?
Câu 3: Nêu lên những lý chứng tiêu cực và tích cực quả quyết Chúa Giêsu thật sự đã Phục Sinh vào rạng ngày thứ nhất trong tuần?
Câu 4: Chúa Giêsu lên Trời nghĩa là thế nào? Ngài ở lại với Hội Thánh cho đến tận thế bằng những phương thế nào?

 
PHẦN  IV
TRIỂN KHAI ƠN CỨU ĐỘ QUA MỌI THỜI ĐẠI
Rút từ Mạc Khải của Thánh Linh trong lịch sử Hội Thánh
( Từ bài 16 đến bài 24 )
 
Bài 16
CHÚA GIÊSU TIẾP TỤC CHƯƠNG TRÌNH CỨU ĐỘ QUA HỘI THÁNH  LÀ BÍ TÍCH CỨU ĐỘ PHỔ QUÁT CỦA NGÀI
 Dẫn nhập
Trước khi lên trời, Đức Giêsu đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Vậy, Ngài ở lại với ta thế nào một khi Ngài đã trở lại cõi thần thiêng? Thưa: cũng như hết mọi thực thể thần thiêng khác, Chúa Giêsu từ nay sẽ hiện diện thực sự nhiệm mầu qua các dấu chỉ hữu hình. Và ta cũng sẽ chỉ gặp được Ngài một cách thực sự qua các dấu chỉ đó. Dấu chỉ mà Ngài chọn làm hiện thân của Ngài nơi nhân loại chính là Hội Thánh.
Chúa Giêsu thiết lập Hội Thánh để kế tục chương trình cứu độ của Ngài qua các thời đại cho đến tận thế. Sinh thời, Ngài đã chọn các tông đồ và môn đệ, huấn luyện, trao quyền. Khi về trời, Ngài trao cho các ông sứ mệnh rao giảng, thánh hoá và làm cho muôn dân trở thành một đoàn chiên theo một Chúa Chiên. Hội
Thánh được xây dựng trên nền tảng Mười Hai Tông Đồ. Hội Thánh chính là hiện thân của Đức Kitô tại thế, là Bí tích cứu độ phổ quát của Ngài.
     Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Chúa Giêsu đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Xin Ngài ban ơn đức tin, để ta ý thức được sự hiện diện thần thiêng của Ngài nơi lớp học này. Đọc kinh Sáng soi.
1. Cơ cấu hữu hình của  Hội Thánh
Hội Thánh có cơ cấu hữu hình là dấu chỉ  hiện diện của Chúa Kitô thần thiêng: “Ai nghe Hội Thánh là nghe Đức Kitô(x.Lc 10,16; Mt 10,40); còn Đức Kitô là Bí Tích của Chúa Cha “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9).
Chúa Giêsu trao quyền cai trị cho Hội Thánh. Hội Thánh có quyền cầm buộc và tháo cởi: “Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 23).
Hội Thánh do Đức Kitô thiết lập đặt trên nền tảng các tông đồ bao gồm các thành phần sau:
+ Tông Đồ đoàn được kế tục bởi giám mục đoàn, có người đứng đầu là Phê-rô và đấng kế vị trên ngai toà Phê-rô tại Rô-ma là Đức Giáo Hoàng (Đức Bê-nê-đíc-tô XVI là vị Giáo Hoàng 265).
+ Giám mục kế vị các thánh tông đồ coi sóc một phần dân Thiên Chúa (Giáo phận của mình) và hiệp thông với các giám mục trong Hội Thánh toàn cầu.
+ Linh mục (cha xứ) đại diện giám mục coi sóc một giáo xứ hoặc làm công tác mục vụ khác do giám mục uỷ quyền.
+ Phó tế là người giúp việc cho giám mục và linh mục trong tư cách giáo sĩ của mình.
+ Giáo dân là toàn thể những người đã được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy trong Hội Thánh  mà không có chức thánh.
+ Ngoài ra, còn có một thành phần gọi là tu sĩ: họ là giáo sĩ hoặc giáo dân sống đời sống thánh hiến, khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm làm chứng tá cho Nước Trời.
2. Cơ cấu thiêng liêng của Hội Thánh
Tuy Hội Thánh là tổ chức có cơ cấu hữu hình bề ngoài như bất cứ tổ chức xã hội nhân loại nào, nhưng thực chất bên trong của Hội Thánh lại là một thực thể thiêng liêng. Hội Thánh là một thân thể mầu nhiệm mà Chúa Kitô là Đầu, còn  mỗi thành viên của Hội Thánh là chi thể và Chúa Thánh Thần là linh hồn của Hội Thánh.
Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh luôn hoạt động trong Hội Thánh, làm cho Hội Thánh sống động, tươi trẻ và luôn phát triển qua mọi thời đại.
3. Sứ mệnh của Hội Thánh
Chúa Giêsu lập Hội Thánh để tiếp tục chương trình cứu độ của Ngài, qua việc trao cho Hội Thánh hai nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ thứ nhất, Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân (x.Mc 16,15). Ngài lập Hội Thánh là để đi rao giảng Tin Mừng. Vì thế, truyền giáo là bản chất của Hội Thánh. Hội Thánh có trách nhiệm loan báo và giảng dạy Lời Chúa đến cho mọi người, mọi nơi và mọi thế hệ. Qua Hội Thánh, Đức Kitô thần thiêng vẫn tiếp tục giảng dạy bằng Lời trong Kinh Thánh. Hội Thánh đã thực thi sứ mệnh này trải qua hơn hai ngàn năm nay và mãi mãi đến tận thế.
- Nhiệm vụ thứ hai của Hội Thánh là thánh hoá muôn dân. Chúa Giêsu sai các môn đệ làm Phép Rửa cho muôn dân “Nhân Danh Cha,và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Hội Thánh thánh hóa Dân Thiên Chúa nhờ các Bí tích mà Chúa đã lập để họ trở nên môn đệ của Ngài. Nhờ việc cử hành các Bí tích của Hội Thánh, Đức Kitô vẫn tiếp tục ở lại với loài người để tha thứ, để tế lễ, để dẫn dắt mọi người trở về đoàn tụ thành một đoàn chiên theo một Chủ chăn.
Kết luận
Qua đó, ta thấy Hội Thánh là Bí tích cứu độ phổ quát của Đức Kitô. Phổ quát có ý nghĩa Hội Thánh là hiện thân của Đức Kitô về mọi mặt, tiếp tục tất cả mọi công việc Đức Kitô xưa đã làm để cứu độ con người. Qua Hội Thánh, Đức Kitô vẫn tiếp tục chương trình cứu độ của Ngài bằng việc cai trị, giảng dạy và  thánh hóa mọi nơi, mọi thời mãi mãi cho đến tận thế.
Gợi ý cầu nguyện: Tuyên xưng niềm tin vào Hội Thánh là hiện thân của Đức Kitô tại thế. Xin ơn được biết vâng phục và yêu mến Hội Thánh, như yêu mến Đức Kitô. Làm dấu Thánh Giá, đọc kinh  Sáng danh.
Câu hỏi
Câu 1: Chúa Giêsu thiết lập Hội Thánh như thế nào? Tại sao gọi Hội Thánh  là Bí tích cứu độ phổ quát của Chúa Giêsu?
Câu 2: Cơ cấu hữu hình của Hội Thánh gồm các thành phần nào?
Câu 3: Cơ cấu thiêng liêng của Hội Thánh là thế nào?
Câu 4: Chúa Giêsu lập Hội Thánh và trao cho Hội Thánh 2 nhiệm vụ nào?

 
Bài 17
HỘI THÁNH ĐƯỢC CHUYỂN GIAO LỜI MẠC KHẢI CỰU ƯỚC.
 Dẫn nhập
     Để chương trình cứu đô của Thiên Chúa được tiếp tục mãi mãi, trước khi về trời, Đức Kitô đã trao sứ mệnh cho Hội Thánh phải đi rao giảng và thánh hoá muôn dân.Vậy Ngài đã ban phương thế nào để Hội Thánh có thể chu toàn sứ vụ đó?
Chúa Giêsu trao cho Hội Thánh hai phương thế: Lời Chúa và các Bí tích. Lời Chúa trong Kinh Thánh là phương thế thứ nhất Đức Kitô trao cho Hội Thánh, gồm hai phần Cựu Ước và Tân Ước.
Trong bài này, ta tìm hiểu phần Cựu Ước.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xưa Chúa Giêsu đã hứa ban Thánh Thần để soi sáng cho các tông đồ am hiểu mọi điều Ngài đã dạy, mọi lời Ngài đã nói. Xin cũng ban ơn Thánh Thần để ta biết đón nhận lời Chúa trong Kinh Thánh. Đọc kinh Sáng soi.
1. Cách thức chuyển giao
Lời Thiên Chúa mạc khải cho các tổ phụ dân Ít-ra-en và các ngôn sứ trong Cựu Ước được chứa đựng trong một pho sách. Sách đó gọi là: sách Luật và các ngôn sứ, người Do Thái còn gọi là Kinh Thánh.
Kinh Thánh theo nguyên tự là sách của Trời, của Chúa, vì nội dung chứa đựng Lời Chúa. Nhưng Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, Ngài không có miệng để nói bằng tiếng nói nhân loại cho tai ta nghe được, mà Ngài nói bằng lời tâm linh. Ngài không nói vào tai ta, mà nói thẳng vào tâm trí ta, thông truyền cho con người một sứ điệp tâm linh, trực tiếp tâm trí ta cảm nghiệm được.
Chẳng hạn như tiếng lương tâm: khi một người phạm trọng tội, người ấy nghe thấy tiếng khiển trách tự trong lương tâm mình, chứ không phải nói vào tai. Lời khiển trách tâm linh ấy mạnh tới mức độ đôi khi kẻ có tội không chịu nổi phải ra đầu thú.
Thông thường, Thiên Chúa dùng trung gian là con người để nói với con người. Ngài tuyển chọn từ trong dân một số người làm ngôn sứ. Ngài phán lời tâm linh với các ông. Đến lượt mình, các ông lại truyền đạt lại cho vua và dân Ít-ra-en bằng ngôn ngữ của các ông. Như thế, lời tâm linh của Thiên Chúa đã được chuyển đổi qua ngôn ngữ của loài người.
Đây cũng là ý muốn của dân Ít-ra-en. Khi Mô-sê lên gặp Thiên Chúa, dân đã xin Thiên Chúa đừng trực tiếp nói với họ vì họ quá khiếp sợ, nhưng xin Thiên Chúa nói qua ông (x.Xh 20,18-21)
Như vậy, Thiên Chúa đã nói qua các ngôn sứ ở mọi nơi và mọi thời bằng tiếng tâm linh. Đến lượt mình, các ngôn sứ đã chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa cho người khác bằng ngôn ngữ của con người.
2. Thân thế các ngôn sứ
Theo lịch sử, Thiên Chúa đã chọn rất nhiều hạng người khác nhau làm ngôn sứ. Một số ông có trình độ học thức, không những họ truyền đạt lời mà còn viết ra như: Mô-sê, I-sai-a. Nhưng cũng có người chẳng biết một chữ bẻ đôi (A-mót là một người dân quê được sai đi làm ngôn sứ đang khi mót sung, x.Am 7,12-15).
Tuy nhiên, đa số các ngôn sứ chỉ truyền đạt bằng lời giảng. Ngay đương thời của các ông, người ta không tin (cho là nhảm nhí và còn tìm cách giết hại các ông); nhưng sau khi các ông chết, người ta mới thấy lời của các ông ứng nghiệm. Họ đã nhớ lại những lời đó và có người chép lại. Dần dần hình thành một bộ sưu tập gọi là Kinh Thánh.
Một tính chất đặc biệt của các ngôn sứ là các ngài được Thiên Chúa mạc khải cho biết trước nhiều điều sẽ xảy đến trong tương lai. Có những lời ứng nghiệm ngay sau đó. Có những lời nhiều năm sau hoặc cả ngàn năm sau mới ứng nghiệm. Do đó, người ta còn gọi các ngài là tiên tri.
Kinh Thánh của người Do Thái được viết trên những mảnh da thuộc.
3. Nội dung Mạc Khải
Tới thế kỷ I TCN, bộ sưu tập về Lời Chúa qua các ngôn sứ đã xác định 46 văn phẩm, mà ta gọi là Kinh Thánh Cựu Ước.
Xét về thể văn thì bộ sưu tập này rất đa dạng và được hình thành trong suốt 10 thế kỷ (từ Mô-sê đến thế kỷ II  trước Chúa Giêsu).
Gọi là Cựu Ước, vì những văn phẩm này xoay quanh chủ đề Giao Ước Cũ giữa Thiên Chúa với các tổ phụ rồi với toàn dân Do Thái trong suốt hơn 18 thế kỷ trước công nguyên, đặc biệt là Giao Ước Xi-nai. Một Giao Ước đã được ký kết song phương giữa Thiên Chúa và Dân Ngài, qua các nghi thức đặc biệt để làm dấu chỉ (chi tiết sẽ trình bày trong phần sơ đồ ở bài sau).
- 46 văn phẩm đó không những ghi lại nội dung Giao Ước  Thiên Chúa và Ít-ra-en đã ký kết song phương, mà còn ghi lại quá trình thực hiện Giao Ước ấy trong lịch sử thăng trầm của dân Chúa chọn. Một lịch sử đầy những chiến tích oai hùng của bàn tay Thiên Chúa cũng như lòng thương xót nhân hậu và tuyệt đối trung tín của Ngài. Đối lại là những tráo trở, bất trung, vô ơn bạc nghĩa của Dân Chúa và những tình huống bi đát của sự trừng phạt mà họ phải gánh chịu. Các văn phẩm trong Kinh Thánh Cựu Ước ghi lại những vết hằn của đòn ghen mà Thiên Chúa đã đánh phạt khi dân Do Thái phản bội Giao Ước để cuối cùng biết hối cải trở về với Chúa và được giải cứu.
Kết luận
Trong những lời tiên tri mà các ngôn sứ được Thiên Chúa linh hứng đã loan báo trong thời Cựu Ước, có những lời sẽ được ứng nghiệm vào thời Đấng Cứu Thế là Đức Giêsu Kitô ra đời. Vì thế, Đức Giêsu đã phán dạy, Ngài đến không phải để huỷ bỏ mà để kiện toàn lề luật trong Cựu Ước, bằng cách hoàn tất lời các ngôn sứ đã tiên báo. Ngài kiện toàn và chuyển giao Lời Mạc Khải trong Kinh Thánh Cựu Ước đó cho Hội Thánh, để Hội Thánh  làm phương thế giảng dạy cho muôn dân. Lời Chúa trong Cựu  Ước đã mạc khải cho người  Do Thái  xưa nay, trở nên di sản cho Hội Thánh. Còn Tân Ước là của riêng Hội Thánh mà Do Thái không có. Muốn biết Kinh Thánh Tân Ước như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài sau.
Gợi ý cầu nguyện: Cảm tạ Chúa đã chuyển giao kho tàng Lời Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước cho Hội Thánh. Pho Kinh Thánh Cựu Ước xưa đã là sức sống của dân Ít-ra-en, nay cũng đem lại “Lời ban sự sống” thiêng liêng cho ta. Xin Chúa ban cho ta ơn siêng năng đọc Lời Chúa trong Cựu Ước. Đọc kinh  Sáng danh.
 
Câu hỏi
Câu 1: Chúa Giêsu trao cho Hội Thánh 2 phương thế để thi hành sứ vụ đó là những phương thế nào? Lời Chúa trong Kinh Thánh chia làm 2 phần là những phần nào?
Câu 2: Trong Cựu Ước, Lời Thiên Chúa được mạc khải cho các tổ phụ và các ngôn sứ bằng lời tâm linh như thế nào?
Câu 3: Sứ điệp các ngôn sứ để lại bút tích ở đâu? Tại sao các ông còn được gọi là các tiên tri?
Câu 4: Tại sao gọi những văn phẩm Kinh Thánh trước công nguyên là Cựu Ước? Ai giao ước với ai? Nội dung Giao Ước đó thế nào?
  
Bài 18
CHÚA GIÊSU TRAO CHO HỘI THÁNH LỜI MẠC KHẢI TÂN ƯỚC
 
Dẫn nhập
Trong Cựu Ước Thiên Chúa mạc khải bằng tiếng nói tâm linh qua các ngôn sứ. Trải qua suốt 18 thế kỷ trước công nguyên, Thiên Chúa đã từ từ mạc khải dạy dỗ Dân riêng của Ngài là dân Ít-ra-en, như là thời kỳ chuẩn bị tiệm tiến để đón nhận mạc khải trọn vẹn. Sang thời Tân Ước, Con Thiên Chúa xuống thế làm người để mạc khải trực tiếp cho ta bằng tiếng nói của con người, và sau này được ghi lại bằng chữ viết của con người, để thành bút tích lưu truyền lại cho hậu thế . Đó là Kinh Thánh Tân Ước: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách … Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (x.Dt 1, 1-2).
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Cảm tạ Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người đã trực tiếp dạy bảo các tông đồ và qua các ngài, chúng ta đón nhận Lời Mạc Khải. Xin Chúa Thánh Thần ban ơn soi sáng, để chúng ta hiểu được Lời Chúa trong Kinh Thánh Tân Ước. Đọc kinh Sáng soi.
1. Chúa Giêsu  trực tiếp mạc khải
Đức Giêsu đã xuống thế làm  người như chúng ta, Ngài có môi miệng, có thân xác để chúng ta có thể nghe tiếng nói của Ngài, nhìn thấy được hình thể Ngài. Như thế, Ngài mới  mạc khải trực tiếp Lời Thiên Chúa cho con người một cách trọn vẹn.
Trong suốt ba năm, Ngài đã đi nhiều nơi, giảng dạy nhiều điều và làm nhiều phép lạ. Nhưng Ngài không viết gì khi giảng dạy. Trong Tin Mừng chỉ nói đến việc Đức Giêsu viết có một lần nhưng lại là viết trên đất (x.Ga 8,6-8). Cũng không ai ghi chép tại chỗ những lời Đức Giêsu giảng dạy và những việc Ngài làm.
2. Chúa Thánh Thần tác động trên các tông đồ
Hơn nữa, chính các môn đệ cũng không đón nhận được hết những chân lý mà Đức Giêsu giảng dạy. Cụ thể, trong bữa tiệc ly Đức Giêsu đã nói với họ: “Thầy còn nhiều điều  phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí Sự Thật đến… Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (x.Ga 16, 12-15).
Vào ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần đã xuống trên các tông đồ. Ngay ngày hôm đó, các tông đồ đã được đầy tràn Chúa Thánh Thần và Phê-rô giảng bài đầu tiên, đã có khoảng ba ngàn người trở lại xin chịu phép Thánh Tẩy (x.Cv 2,1-41). Tiếp đó, các tông đồ đã đi rao giảng khắp nơi, được Chúa Thánh Thần soi sáng. Các ông nhớ lại và hiểu những lời Đức Giêsu đã dạy mà giảng cho dân chúng. Những lời các ngài rao giảng còn được lưu truyền mãi mãi.
3. Lưu truyền Mạc Khải
a. Bằng Chữ viết
Khi giảng dạy, các tông đồ cũng không viết, mãi về sau, để đáp ứng nhu cầu cho các cộng đoàn tín hữu, các ngài mới viết lại để làm tài liệu dạy giáo lý.
Tông đồ Mát-thêu đã viết sách Tin Mừng thứ nhất, gọi là Tin Mừng theo thánh Mát-thêu.
Mác-cô là môn đệ của thánh Phê-rô, ông đã ghi lại theo những lời giảng dạy của thầy mình thành  sách Tin Mừng thứ hai, gọi là Tin Mừng theo thánh Mác-cô. 
Lu-ca là môn đệ của thánh Phao-lô, ông đã ghi lại theo những lời giảng dạy của thầy mình, cũng như tham chiếu một số nguồn sử liệu khác, nhất là những lời Đức Mẹ kể về biến cố Truyền tin và thời thơ ấu của Đức Giêsu, thành sách Tin Mừng thứ ba,  gọi là Tin Mừng theo thánh Lu-ca.
Tông đồ Gio-an, môn đệ Chúa yêu, viết sách Tin Mừng thứ tư, gọi là Tin Mừng theo thánh Gio-an.
Đó là bốn sách Tin Mừng, bốn tác phẩm quan trọng nhất, nói về cuộc đời, lời giảng dạy và các việc làm của Đức Giêsu.
Vậy Chúa Giêsu đã làm người để mạc khải trọn vẹn về Thiên Chúa cho chúng ta bằng lời nói và hành động, cách cư xử, lối sống của Ngài. Chính Ngài là Lời của Thiên Chúa.
Không những chỉ có bốn sách Tin Mừng đó mà thôi, các tông đồ còn được Chúa Thánh Thần soi sáng viết nhiều văn phẩm khác để lại cho Hội Thánh, các văn phẩm đó bao gồm:
     + Mười bốn thư của thánh Phao-lô và bảy Thư Chung của Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê và Giu-đa, (gọi là Thư Chung vì gửi chung cho tất cả các giáo đoàn).
+ Lu-ca đã viết sách Công Vụ Tông Đồ kể lại hoạt động của Hội Thánh thời sơ khai, đặc biệt là về hành trình truyền giáo của Phao-lô.
+ Sau cùng, Gio-an còn được mạc khải về tương lai của Hội Thánh, ngài đã viết sách Khải Huyền tại đảo Pát-mô nơi bị lưu đày khi về già.
Như vậy, 27 văn phẩm trong Kinh Thánh Tân Ước tạo thành kho tàng mạc khải do chính Chúa Giêsu trực tiếp giảng dạy và được các tông đồ truyền lại nhờ Chúa Thánh Thần tác động.
b. Qua Truyền thống
Ngoài Kinh Thánh ra, Mạc Khải còn được lưu truyền qua những định chế được thiết lập trong Hội Thánh; cụ thể như các Bí tích và các tập tục của Hội Thánh từ các thánh tông đồ truyền lại cho tới ngày nay.
4. Nội dung Mạc Khải
Nếu Kinh Thánh Cựu Ước xoay quanh Giao Ước Cũ, thì nội dung Kinh Thánh Tân Ước xoay quanh Giao Ước Mới: Chúa Giêsu xuống thế làm người  lập Giao Ước Mới với Hội Thánh là Dân Mới của Ngài. Cũng như  Giao Ước Cũ Thiên Chúa ký kết với dân Do Thái  thì Chúa Giêsu cũng ký kết Giao Ước Mới với Hội Thánh của Ngài.
Sự trổi vượt của Tân Ước hơn Cựu Ước: Trong khi Cựu Ước dạy giữ Thập Điều dựa trên cơ sở công bằng, yêu người bằng mình, thì Tân Ước dạy ta “yêu người như Chúa yêu” nhằm mục đích nên trọn lành trong việc thực hiện Tám Mối Phúc (giới thiệu và giải nghĩa kinh Phúc Thật Tám Mối).
Sau đây là bản sơ đồ đối chiếu so sánh giữa Cựu Ước và Tân Ước (xem sơ đồ).

 
 
   
 

Kết luận
Chúa Giêsu đã thiết lập Hội Thánh trên nền tảng các tông đồ, trao cho Hội Thánh sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân và thánh hoá mọi người làm con Chúa. Để hoàn thành sứ mệnh đó, Chúa Giêsu cũng trao cho Hội Thánh những phương thế. Một trong những phương thế đó là kho tàng Mạc Khải Lời Chúa. Kho tàng Lời Chúa này gồm hai phần của bộ  Kinh Thánh:
Phần một là Cựu Ước, là Lời Chúa mạc khải cho dân Ít-ra-en, nhất là trong Giao Ước Xi-nai (Giao Ước Cũ), nay được Chúa Giêsu chuyển giao cho Hội Thánh quản lý và sử dụng.
Phần hai là Tân Ước, là Lời Chúa do chính Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người phán dạy và được các tông đồ truyền lại dưới tác động của Chúa Thánh Thần.
Hội Thánh lấy Lời Chúa trong Kinh Thánh cả Cựu Ước lẫn Tân Ước để rao giảng cải huấn muôn dân. Mỗi tín hữu phải lấy Lời Chúa trong Kinh Thánh để học hỏi và cải huấn chính mình. Muốn làm cho Lời Kinh Thánh tác động vào tâm hồn ta, khi đọc Kinh Thánh ta phải theo tiến trình mà Thiên Chúa nói với con người: Thiên Chúa nói Lời tâm linh, Lời đó được các ngôn sứ chuyển hoá thành lời con người để nói vào tai ta nghe được. Vậy, ta phải đọc lời con người được viết ra Kinh Thánh này, rồi suy niệm để lời đó lại chuyển hoá thành Lời tâm linh có sức tác động vào linh hồn mình.

III. THÔNG CÁO CỦA CÁC GIÁM MỤC VỀ LỄ NGHI TÔN KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN*Gợi ý cầu nguyện: Ta hãy tuyên xưng niềm tin vào Lời trong pho Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước chính là Lời Chúa. Xin ơn để ta năng đọc và suy niệm Lời Chúa, để Lời Chúa trở nên của ăn tâm linh nuôi sống linh hồn ta. Đọc kinh  Sáng danh.
 
 
Câu hỏi
Câu 1: Lời Chúa mạc khải trong 46 văn phẩm Cựu Ước là qua các ngôn sứ, còn Lời Chúa trong 27 văn phẩm Tân Ước là do ai mạc khải và do ai truyền lại?
Câu 2: Có mấy thánh tông đồ ghi lại các sách Tân Ước, đó là những cuốn sách nào? Còn những cuốn khác thì do ai ghi lại và ghi theo lời ai truyền?
Câu 3: Trong Tân Ước có 4 sách nào quan trọng nhất, vì sao? Có sách nào là sách tiên tri trong Tân Ước, do ai chép lại và nói về vấn đề gì?
Câu 4: Tân Ước ghi lại Giao Ước Mới, ai giao ước với ai? Bạn hãy so sánh Tân Ước và Cựu Ước dựa theo sơ đồ ghi trên bảng đối chiếu?
  
Bài 19
CHÚA GIÊSU TRAO CHO HỘI THÁNH BẢY PHÉP BÍ TÍCH
Dẫn nhập
Để tiếp tục sứ mệnh rao giảng và thánh hoá muôn dân, Đức Giêsu đã trao ban cho Hội Thánh hai phương thế hữu hiệu để họ chu toàn. Hai bài trước, chúng ta đã tìm hiểu phương thế thứ nhất là Lời Mạc Khải của Thiên Chúa được chứa đựng trong kho tàng Kinh Thánh. Bài này, chúng ta tiếp tục đi vào phương thế thứ hai mà Đức Kitô trao cho Hội Thánh là các Bí tích.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Cầu xin Đức Giêsu ban cho ta ơn thấu hiểu các Bí tích mà Ngài đã lập. Đây thực sự là máng thông truyền ơn thiêng cho con người. Đọc kinh Sáng soi.
1. Con số các Bí tích
Bảy Bí tích Đức Giêsu đã thiết lập chính là phương thế thứ hai để thánh hoá nhân loại, nó rất cần thiết cho con người. (giới thiệu kinh bảy phép Bí tích).
Bảy Bí tích do chính Đức Giêsu thiết lập. Tuy trong Kinh Thánh không nói rõ hết về bảy Bí tích đó, nhưng đã có trong truyền thống của Hội Thánh từ thời các tông đồ. Điều đó dễ hiểu, vì như  lời thánh Gio-an viết cuối sách Tin Mừng của ngài: “Còn có nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (Ga 21,25).
Thế nhưng tại sao Ngài lại chỉ lập bảy Bí tích mà không lập nhiều hơn nữa? Vì bảy Bí tích tương đương với 5 giai đoạn của cuộc sống cá nhân và 2 nhu cầu của đời  sống cộng đoàn:
a. Năm giai đoạn chính của cuộc sống cá nhân
  Sinh ra                        ó         Bí tích Thánh Tẩy.
‚  Lớn lên                       ó         Bí tích Thêm Sức.
ƒ  Dinh dưỡng                 ó         Bí tích Thánh Thể.
„  Chữa bệnh                  ó         Bí tích Hòa Giải.
…  Lâm tử                        ó         Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân.
b. Hai nhu cầu chính của đời sống xã hội
†  Lãnh đạo cộng đoàn ó  Bí tích Truyền Chức.
‡  Xây dựng gia đình     ó Bí tích Hôn Phối.
2.  Ý nghĩa và mục đích
Bí tích là dấu chỉ. Tích là dấu tích bề ngoài hữu hình. là bí nhiệm, ý chỉ những thực tại thiêng liêng. Ta đã học biết Đức Kitô là dấu chỉ của Thiên Chúa Cha, Hội Thánh là dấu chỉ của Đức Kitô.
Bảy Bí tích không những là dấu chỉ hữu hình để chỉ thực tại thiêng liêng vô hình, mà còn sinh ơn thiêng liêng trong linh hồn người lĩnh nhận Bí tích.
Dấu chỉ: có tính chất biểu tượng. Dấu chỉ là một thứ ngôn ngữ biểu tượng (tượng hình). Ngày nay, với khoa học tiên tiến lại càng sử dụng ngôn ngữ biểu tượng nhiều. Ra đường, ta gặp thấy rất nhiều dấu chỉ trong mọi lãnh vực khác nhau. Thí dụ như ký hiệu giao thông chẳng hạn …
Trong cuộc sống đời thường, ta cũng thấy có những dấu chỉ để chỉ những thực tại  thiêng liêng vô hình. Chẳng hạn như: hình trái tim dùng để chỉ tình yêu, hay lá cờ quốc kỳ là dấu chỉ hồn của một đất nước … (bình thường nó chỉ là tấm vải, nếu cứ gập để trong hòm sẽ không có giá trị gì, nhưng nếu treo lên theo nghi thức thì hết mọi người đều phải nghiêng mình bái phục…). Bí tích chính là dấu chỉ loại này. Đức Giêsu đã dùng những yếu tố hết sức thực tế (nước, bánh , rượu, dầu …) trong đời thường làm dấu chỉ các Bí tích, từ những thứ chúng ta nhìn thấy để chỉ những điều ta không nhìn thấy như: dùng nước để làm dấu chỉ rửa sạch, tái sinh.
Dấu chỉ của Bí tích không những “chỉ” mà còn “sinh ơn thiêng liêng”. Thí dụ Bí tích Thánh Tẩy: nước lã không chỉ rửa sạch bên ngoài mà còn tẩy sạch tội lỗi bên trong linh hồn người lĩnh nhận.
Đã là dấu chỉ thì phải có quy định rõ ràng và phải thống nhất với nhau. Thí dụ: Lá Quốc Kỳ là hồn của non nước thì phải được Quốc hội nước đó quy định và truyền phải dùng đúng theo quy ước đó. Dấu chỉ của Bí tích cũng đã được Đức Kitô quy định cách rõ ràng và truyền phải tuân giữ y như vậy, không được thay đổi vì bất cứ lý do gì. Thí dụ: Chúa Giêsu truyền phải dùng nước lã trong Bí tích Thánh Tẩy, ta không thể lấy cồn để rửa cho sạch hơn được. Làm thế sẽ không thành hiệu vì không làm đúng theo lệnh truyền của Đức Kitô.
Một thí dụ khác: xưa các vị vua chúa quen dùng một đồng tiền bẻ đôi, mỗi bên giữ một nửa. Khi sai sứ giả đi giao dịch với nhau, thì đem nửa đồng tiền đó đi, để làm dấu chỉ đích thực là người đối tác với mình. Vậy nếu đã cùng lấy đồng tiền nào làm dấu chỉ, thì không thể thay dấu chỉ khác tuỳ tiện được.
Chúa lập Bí tích như là cầu nối giữa thế giới hữu hình và vô hình. Bí tích chính là cầu nối bắc từ bờ hữu hình này sang bờ bên kia là thế giới thiêng liêng vô hình. Nhờ đó, ta mới từ cõi hữu hình vật chất mà liên hê được với cõi thiêng liêng. Bí tích còn là như kênh chuyển hệ, để chuyển từ hệ thiêng liêng sang hữu hình. Thí dụ: Đài phát thanh hay đài truyền hình phát sóng truyền thông thì cần phải có hệ thống máy móc làm kênh chuyển hệ từ hệ “điện từ “ sang hệ “sóng âm”, thì tai chúng ta mới có thể nghe được sóng âm (trong máy truyền thanh); hoặc chuyển từ hê sóng điện từ sang sóng ánh sáng thì mắt chúng ta mới thấy được sóng ánh sáng đó (trong máy truyền hình).
Các Bí tích trong đạo là những kênh chuyển hệ rất cần thiết. Bởi lẽ, Chúa và các ơn của Ngài là thiêng liêng, mà con người chúng ta là người trần mắt thịt, không cảm nhận được những thực tại thiêng liêng. Do đó, Chúa Giêsu phải thiết lập những dấu chỉ cụ thể, để cho ta nhận ra sự hiện diện của Chúa và biết ta đã lĩnh nhận được ơn của Ngài. Thí dụ: Tôi ngửa mặt lên trời xin Chúa tha tội, tôi không biết có được Chúa tha tội không. Nhưng qua dấu chỉ Bí tích Giải tội cụ thể, tôi thấy linh mục thay mặt Chúa đọc lời “Cha tha tội cho con …” thì tôi mới biết chắc mình được khỏi tội.
Cuối cùng, Bí tích cũng là điểm hẹn để từ đó Thiên Chúa đến gặp gỡ con người và con người được gặp gỡ Thiên Chúa. Thông thường, muốn gặp Chúa và lĩnh nhận các ơn của Ngài, ta phải qua việc lĩnh nhận Bí tích.
Kết luận
Bí tích là phương thế cần thiết mà Hội Thánh phải thi hành để chu toàn sứ mệnh là thánh hoá loài người thể theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Phần mỗi người, muốn được cứu độ phải lĩnh nhận Bí Tích như là phương thế cần thiết và hữu hiệu.
Gợi ý cầu nguyện: Cảm tạ Chúa Giêsu đã lập các Bí tích là phương thế cho ta gặp được Chúa và lĩnh nhận các ơn thiêng của Ngài. Xin ban ơn cho ta biết năng lĩnh nhận các Bí tích để được sống mạnh mẽ trong đời sống thiêng liêng. Đọc kinh  Sáng danh.
 
Câu hỏi
Câu 1: Tại sao chỉ có bảy Bí tích trong Hội Thánh? Do ai lập? Do đâu mà biết điều đó, vì Kinh Thánh không nói hết?
Câu 2: Bí tích là gì? Trong Bí tích, có phần hữu hình, có phần thiêng liêng, hãy diễn giải từng phần đó? Cho thí dụ áp dụng vào Bí tích Thánh Tẩy.
Câu 3: Tại sao nói Bí tích như là cầu nối giữa thế giới hữu hình và vô hình, như kênh chuyển hệ? Cho những thí dụ trong đời thường để minh họa.
Câu 4: Hãy giải thích Bí tích cũng là điểm hẹn để Thiên Chúa đến gặp gỡ con người và con người gặp gỡ Thiên Chúa? Vậy việc lĩnh nhận Bí tích có cần thiết không?

 
Bài 20
BA BÍ TÍCH KHAI TÂM KITÔ GIÁO
Dẫn nhập
Bài trước, chúng ta đã tìm hiểu ý nghĩa và mục đích của các Bí tích, do Chúa Giêsu đã lập. Trong bài này, chúng ta cùng tìm hiểu ba Bí tích gia nhập Đạo Chúa là: Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể, hay còn gọi là ba Bí tích Khai tâm Kitô Giáo. Gọi là Bí tích Khai tâm, vì là Bí tích đầu tiên khai mào vào đời sống thiêng liêng như người học lớp vỡ lòng trong chương trình học văn hoá. Sau đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các Bí tích khác.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Chúa Thánh Thần ban ơn soi sáng, để ta hiểu được ý nghĩa và ơn ích của các Bí tích mà Hội Thánh cử hành. Đọc kinh Sáng soi.
I. Bí tích Thánh Tẩy (tương ứng với giai đoạn con người sinh ra)
Đây là Bí tích quan trọng nhất tuy không phải là cao trọng nhất. Chúa Giêsu đã nói: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh lại bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5).
Bí tích Thánh Tẩy là Bí tích Chúa Giêsu đã lập để tái sinh ta trong đời sống mới (thiêng liêng) bởi nước và Thánh Thần.
1. Dấu chỉ bề ngoài
Dùng nước tự nhiên (nước sông, nước biển, nước giếng, nước mưa) đổ nước trên đầu người  dự tòng  (nước phải chảy ướt trên da trán) hoặc dìm họ xuống nước và đọc rằng: T… Tôi rửa ông (bà, anh, chị … ) Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần (vì có nghi thức đổ nước nên còn gọi Bí tích này là phép đổ nước).
2. Công hiệu
- Hiệu quả của Bí tích này chính là được khỏi tình trạng mất ơn nghĩa với Thiên Chúa do tội nguyên tổ để lại và được ơn phúc làm con cái Chúa (nêu thí dụ minh hoạ tội nguyên tổ: tình trạng nghèo khổ bố mẹ để lại cho con cái, do bởi lỗi của bố mẹ ăn chơi trác táng phá hết gia tài …).
- Ngoài ra còn được tha các tội riêng đã phạm nếu là người lớn lĩnh Bí tích Thánh Tẩy. Vì thế, nên còn gọi là phép Rửa tội. Tuy nhiên, gọi là phép Rửa tội thì không chuẩn, dễ gây hiểu nhầm.
- Được tháp nhập vào Hội Thánh là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô  tức là được nên một với Ngài.
- Được tham dự  vào ba chức vụ: Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế của Đức Kitô. Được trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, vì được Ngài ngự trong linh hồn.
- Được khử trừ khỏi quyền lực ma quỉ qua việc xức dầu trừ tà, trong nghi thức lĩnh Bí tích khai tâm Kitô Giáo.
- Được ký kết Giao Ước Mới với Đức Kitô và được dấu ấn thiêng liêng ghi khắc vào linh hồn không bao giờ mất. Cho nên người dự tòng phải suy nghĩ cân nhắc cho kỹ trước khi lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. (câu chuyện vua Julianô bỏ đạo).
- Khi đã lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy thì Thiên Chúa vĩnh viễn nhận ta làm con của Ngài, và không bao giờ Ngài bỏ ta nữa. Dù ta có phản bội với Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn không bỏ, Ngài tiếp tục theo đuổi, có khi đánh phạt để ta biết trở về với Ngài mới thôi.
- Khi lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, được trở thành con Chúa thì ta hoàn toàn yên tâm. Khi chết, ta được về nhà Chúa là Nước Trời. Nơi đó, có đầy đủ mọi thứ, không cần phải lo ai cúng giỗ kẻo trở thành ma đói, ma khát về quấy thiên hạ. Mặt khác, khi gia nhập Hội Thánh, ta thuộc về một gia đình vĩ đại khoảng hai nghìn triệu người tin Chúa Kitô, luôn cầu nguyện cho nhau, không phải lo lẻ loi cô độc.
3. Thừa tác viên cử hành
Thông thường là những thừa tác viên có chức thánh: giám mục, linh mục và phó tế.
Còn trong trường hợp khẩn cấp (nguy tử) thì bất cứ người nào cũng được cử hành (kể cả người ngoài Kitô Giáo), miễn là họ làm theo đúng ý và cách thức của Hội Thánh chỉ dạy.
4. Điều kiện lĩnh thụ
Bí tích này là Bí tích Đức tin nên phải có đức tin thì lĩnh nhận mới thành sự. Đối với người lớn, phải dạy cho họ hiểu và tin những điều cần thiết; đồng thời họ phải thành tâm muốn lĩnh nhận.
Trước khi lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, người lĩnh thụ phải tuyên bố từ bỏ ma quỉ, tội lỗi và tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi (nhắc học kinh Tin kính). Bởi vì, lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy là tự nguyện ký kết Giao Ước với Thiên Chúa.
Đối với trẻ nhỏ, người đỡ đầu tuyên xưng đức tin thay cho các em và có trách nhiệm giáo dục đức tin cho đến khi các em tới tuổi khôn lớn. Bởi đó, trách nhiệm của người đỡ đầu rất quan trọng. Ta cần có mối quan hệ mật thiết với cha mẹ đỡ đầu.
Khi linh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, người lĩnh thụ còn được nhận một Thánh hiệu (tên thánh) là danh hiệu mới xứng với địa vị mới là  con Thiên Chúa. Truyền thống xưa nay thường lấy tên một vị Thánh của Hội Thánh để đặt cho người tân tòng, với dụng ý là nhận vị Thánh đó là Đấng Bảo Trợ (Quan Thầy) cho mình.
II. Bí Tích Thêm Sức (tương xứng với giai đoạn lớn lên, trưởng thành của một con người)
1. Dấu chỉ bề ngoài
Việc đặt tay cầu xin bảy ơn Chúa Thánh Thần của thừa tác viên và dùng dầu (Ô-liu) đã được thánh hiến gọi là Dầu Thánh (SC) xức trên trán người lĩnh thụ Bí tích, kèm theo lời đọc: “T…. Hãy lĩnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”. Bí tích này, ghi ấn tích thiêng liêng không bao giờ mất, nên chỉ lĩnh nhận một lần.
2. Công hiệu
Người lĩnh nhận được tràn đầy Chúa Thánh Thần, trở thành người tín hữu trưởng thành, can đảm xưng đạo thánh Đức Chúa Trời ra trước mặt thiên hạ, thà chết chẳng thà bỏ Đạo (biến cố lễ Ngũ Tuần nơi các tông đồ x.Cv 2,1-40).
3. Thừa tác viên cử hành
Thừa tác viên thông thường là đức giám mục, linh mục chỉ là thừa tác viên ngoại lệ khi được đức giám mục uỷ quyền.
4. Điều kiện lĩnh thụ
Để được lĩnh thụ Bí tích Thêm sức, người lĩnh nhận phải có những điều kiện sau:
+ Đã lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.
+ Đã đến tuổi khôn (7 tuổi).
+ Phải học hiểu giáo lý.
+ Sạch tội trọng.
+ Phải có người đỡ đầu (thường là người đã đỡ đầu cho đương sự khi lĩnh thụ phép Thánh Tẩy).
+ Phải có lòng ước muốn (nếu là người lớn).
III. Bí tích Thánh Thể (ứng với của ăn nuôi sống trong đời sống phần xác)
1. Dấu chỉ bề ngoài
Bánh miến và rượu nho được dùng khi cử hành Thánh Lễ. Linh mục khẩn cầu Chúa Thánh Thần thánh hóa những lễ vật (bánh và rượu) và đọc những lời thánh hiến mà Chúa Giêsu đã nói trong bữa ăn cuối cùng (Tiệc Ly): “Này là Mình Thầy … Này là Máu Thầy ...” (x.Lc 22, 19-20; 1Cr 12, 23-25).
2. Công hiệu
Nhờ việc thánh hiến, bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô. Dưới hình bánh và hình rượu (dấu chỉ hữu hình) đã được thánh hiến, Đức Kitô đang sống trong vinh quang, nhưng còn hiện diện cách thực sự và toàn vẹn cùng với linh hồn và thần tính của Ngài, để ở với Hội Thánh mọi ngày cho đến tận thế và nên của ăn nuôi linh hồn tín hữu.
3. Thừa tác viên cử hành
Chỉ các giám mục, linh mục (Tư tế) mới có thể chủ sự thánh lễ tạ ơn và thánh hiến bánh rượu trở nên Mình-Máu Thánh Chúa Kitô.
4. Điều kiện lĩnh thụ
+ Phải là người đã lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.
+ Phải có lòng tin thật Chúa Giêsu ngự trong hình bánh và hình rượu. Vì thế, khi đưa Bánh Thánh cho chúng ta lĩnh nhận, thừa tác viên đọc: “Mình Thánh Chúa Kitô” thì ta thưa “Amen”, nghĩa là “thật như vậy”.
+ Phải ở trong tình trạng ân sủng, nghĩa là phải sạch tội trọng. Ai mắc tội trọng nếu muốn rước Chúa Kitô thì phải lĩnh Bí tích Hòa Giải trước.
Kết luận
Chúng ta vừa tìm hiểu về ba Bí tích Khai tâm Kitô Giáo. Đó là bộ ba không thể thiếu được cho người lớn muốn gia nhập Đạo Công Giáo.
+ Bí tích Thánh Tẩy là cửa ngõ vào Đạo Thánh Chúa.
+ Bí tích Thêm Sức làm cho ta lớn lên và trưởng thành trong đời sống đạo.
+ Bí tích Thánh Thể là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng linh hồn tín hữu.
Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn để đón nhận các Bí tích cho xứng đáng.
Gợi ý cầu nguyện: Cảm tạ Chúa đã lập ba Bí tích Khai tâm để đón nhận ta vào đại gia đình Hội Thánh, làm con cái Chúa. Xin cho ta biết lấy đức tin để dọn mình xứng đáng lĩnh nhận ba Bí tích này. Đọc kinh Sáng danh.
 
Câu hỏi
Câu 1: Bí tích Thánh Tẩy được cử hành như thế nào? Dấu chỉ bề ngoài của Bí tích này là gì, thừa tác viên chính thức là ai? Và cần điều kiện gì để lĩnh thụ?
Câu 2: Hãy nói lên những hiệu quả của Bí tích Thánh Tẩy?
Câu 3: Hãy diễn giải Bí tích Thêm Sức: dấu chỉ bề ngoài là gì, sinh công hiệu thiêng liêng ra sao? Điều kiện để lĩnh thụ và ai là thừa tác viên cử hành?
Câu 4: Hãy diễn giải Bí tích Thánh Thể: dấu chỉ bề ngoài là gì, sinh công hiệu thiêng liêng ra sao? Điều kiện để lĩnh thụ và ai là thừa tác viên cử hành?

 
 Bài 21
CÁC BÍ TÍCH THÁNH HOÁ ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN VÀ CỘNG ĐOÀN
 Dẫn nhập
     Chúng ta đã học hỏi về những dấu chỉ Chúa Giêsu đã thiết lập, để Hội Thánh làm phương thế thánh hoá và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Chúa. Bài trước, chúng ta đã tìm hiểu về ba Bí tích Khai tâm Kitô Giáo. Trong bài này, chúng ta tiếp tục tìm hiểu 4 Bí tích còn lại, để thấy ý nghĩa, mục đích, dấu chỉ, công hiệu và điều kiện lĩnh nhận các Bí tích đó như thế nào?
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Đức Chúa Thánh Thần ban ơn soi sáng, để ta được học hiểu ý nghĩa và ơn ích của các Bí tích Chúa Giêsu đã lập. Đọc kinh Sáng soi.
............... I. Bí tích Hòa Giải
Nếu như trong cuộc sống của con người có những lúc ốm đau bệnh tật, cần phải có thuốc để chữa trị, thì trong đời sống thiêng liêng, cũng có những lần phạm tội làm đau yếu hoặc chết đi phần linh hồn. Do đó, Chúa Giêsu lập Bí tích Hòa Giải để tha tội và chữa trị  bệnh tật về phần linh hồn cho ta.
Nhưng ơn tha tội Chúa ban thì thiêng liêng vô hình, vậy làm thế nào để ta biết mình  được ơn tha tội? Do đó, Chúa Giêsu đã cho ta một dấu chỉ cụ thể của ơn tha tội. Dấu chỉ hữu hình đó là Bí tích Hoà giải. Bí tích Hòa Giải là Bí tích Chúa Giêsu đã lập để tha các tội ta phạm từ khi lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy về sau, cùng giao hòa ta với Chúa và Hội Thánh. Lời Chúa phán: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì tội người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).
1. Dấu chỉ bề ngoài
Hối nhân xưng thú tội lỗi (tội là lỗi lề luật mà Chúa đã truyền ban, phạm đến Chúa và với anh em) với linh mục và ngài đọc lời xá giải (tha tội) nhân danh Chúa Ba Ngôi mà tha tội cho hối nhân: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót đã nhờ sự chết và sự sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho con ơn tha thứ và bình an. Vậy Cha tha tội cho con Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần ”. Hối nhân thưa: Amen.
2. Công hiệu
Được tha thứ các tội đã phạm đến Thiên Chúa, giao hòa ta với Thiên Chúa và Hội Thánh. Nhờ đó, hối nhân nhận được lại ân sủng đã mất khi phạm tội trọng.
Tha hình phạt  đời đời bởi  các tội trọng đã phạm và ít là tha một phần  hình phạt tạm thời.
Ban bình an, sự  thanh thản trong lòng và sự an ủi thiêng liêng.
Gia tăng sức mạnh thiêng liêng cho cuộc chiến đấu của Kitô hữu, giúp cho ta thêm ơn sức chừa tội.
3. Thừa tác viên cử hành
Thừa tác viên thông thường là giám mục, vì giám mục là người kế vị các thánh tông đồ đã được Đức Giêsu ban quyền tha tội (x.Ga 20,22-23). Còn linh mục thì phải được sự uỷ quyền của giám mục.
Những trường hợp hối nhân nguy tử, bất cứ linh mục nào cũng được phép ban Bí tích Hoà giải, kể cả linh mục đã hồi tục.
Sở dĩ, giám mục và linh mục tha được tội, vì được Chúa uỷ quyền, và tha tội nhân danh Thiên Chúa. Cũng như vị chánh án toà án nhân dân được nhà nước uỷ quyền nên có thể kết án hoặc tha cho phạm nhân.
4. Người lĩnh thụ
Bất cứ tín hữu nào (đến tuổi khôn) có tội và có lòng muốn đều có thể lĩnh Bí tích này.
5. Điều kiện lĩnh thụ
+ Đã lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.
+ Xét mình xem có phạm tội nào lỗi Mười điều răn của Chúa và Sáu điều răn của Hội Thánh không? Để thành tội thì phải lỗi điều gì có luật cấm, biết rõ có luật mà cố tình phạm.
+ Thống hối ăn năn và dốc lòng chừa (giải nghĩa ăn năn tội cách trọn và ăn năn tội cách chẳng trọn).
+ Phải nhận thấy mình là kẻ có tội và xưng thú hết tội của mình với cha giải tội (cách thức xưng tội sẽ hướng dẫn sau).
+ Phải làm việc đền tội theo như cha giải tội đã dạy (đền bù những thiệt hại mình đã gây nên).
Như vậy, khi lĩnh nhận Bí tích Hòa Giải, ta được tha thứ các tội đã phạm, được giao hòa với Chúa và Hội Thánh, được bình an và thêm lòng yêu mến Chúa hơn.
II. Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân
Trước giờ lâm tử sang cõi sống bên kia, người ta cảm thấy lo sợ trước vận mạng của mình. Đối với người Kitô hữu, đây là giờ quyết định cuối cùng để được thưởng hay phải phạt đời đời. Đó là lý do mà mọi người phải khiếp sợ khi đối diện với sự chết. Vì thế, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Xức Dầu để ban ơn nâng đỡ, thêm sức và ủi an họ vững tin vào Chúa trong những giờ phút đó.
1. Dấu chỉ bề ngoài
Dùng dầu (OI) đã được thánh hiến (do đức giám mục làm phép trong thánh lễ sáng Thứ Năm Tuần Thánh) xức trên trán và hai bàn tay người lĩnh thụ, kèm theo lời cầu nguyện  của linh mục để cầu xin ân sủng đặc biệt của Bí tích này cho người chịu phép.
2. Công hiệu
Để được ơn sức mạnh thiêng liêng chống lại sự cám dỗ của ma quỉ trong giờ lâm tử.
Được ơn an ủi, bình an và can đảm chịu đau khổ để kết hợp sự đau khổ của mình với sự thương khó của Đức Kitô trên Thánh giá và có giá trị cứu chuộc.
Được phục hồi sức khỏe nếu điều đó giúp ích cho ơn cứu độ của thụ nhân.
Cùng với Bí tích Xức Dầu, bệnh nhân rước lễ như của ăn đàng (cắt nghĩa của ăn đàng), để được sức mạnh mà  chuẩn bị bước vào cõi  sống đời đời (nhắc tới thói quen của người đời vẫn để của ăn cho người lâm tử).
3. Thừa tác viên cử hành
 Giám mục và linh mục.
4. Điều kiện lĩnh nhận
Là tín hữu lâm bệnh nặng hoặc già yếu:
+ Nếu có tội trọng thì phải lĩnh Bí tích Hòa Giải trước.
+ Phải  lo liệu cho thụ nhân lĩnh nhận khi còn tỉnh táo để họ ý thức lĩnh nhận được ơn ích của Bí tích này.
III. Bí tích Hôn Phối
Hôn nhân gia đình là một định chế do Thiên Chúa thiết lập ngay từ khi tạo dựng con người (x.St 1,27; 2,24). Tuy nhiên, qua dòng thời gian con người đã làm phai mờ đặc tính của hôn nhân: một vợ một chồng và bất khả phân ly (x.Mc 10,8-9). Cho nên, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Hôn Phối để thiết lập lại định chế đó theo đúng ý định ban đầu của Thiên Chúa.
Bí tích Hôn Phối là Bí tích do Chúa Giêsu đã lập để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ thành vợ chồng trước mặt Chúa và Hội Thánh, cùng ban cho họ ơn sống xứng với đấng bậc mình. Chính Chúa Giêsu đã đến dự tiệc cưới tại Ca-na, để chúc lành cho đôi hôn nhân qua dấu lạ Ngài làm cho nước lã trở thành rượu ngon (x.Ga 2,1-12).
Đối với xã hội, phải đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận và được bảo vệ. Đối với gia tộc, phải có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Còn trong Hội Thánh, phải có nghi  thức chứng hôn (làm phép cưới) theo thể thức của Hội Thánh mới trở thành vợ chồng trước mặt Chúa và trước mặt gia đình Hội Thánh mà mình là phần tử.
Vì là tín hữu thì ta thuộc về một đại gia đình khoảng hai nghìn triệu người trên thế giới đó là Hội Thánh Kitô Giáo. Cho nên khi thành hôn, ta cũng phải theo nghi thức của Hội Thánh. Lễ thành hôn trước Hội Thánh không nguyên chỉ là thủ tục, mà còn là Bí tích ban ơn, thêm sức thiêng liêng cho ta sống đời hôn nhân cho hợp ý Thiên Chúa, nên thánh thiện và hạnh phúc.
Đối với người Công Giáo, việc làm phép cưới ở nhà thờ được mọi người rất coi trọng, mặc dù chưa có thủ tục dân sự hay chưa tổ chức ở gia đình thì họ đã là vợ chồng.
Đặc tính của hôn nhân Công Giáo đòi hỏi phải một vợ một chồng và bất khả phân ly.
Điều kiện thành sự Bí tích Hôn Phối
 Cả đôi bên nam-nữ, phải tự do ưng thuận và tuyên bố rõ ràng sự ưng thuận cách công khai trong nghi lễ.
‚ Không mắc ngăn trở hôn nhân (khác đạo, họ máu, họ kết bạn…).
® Theo thể thức luật định.
IV. Bí tích Truyền Chức Thánh
Trong xã hội phải có những người lãnh đạo, điều hành thì xã hội mới có trật tự, văn minh. Trong Hội Thánh  cũng cần phải có những người đại diện Chúa để lãnh đạo và điều khiển cộng đoàn Dân Chúa. Vì thế, Chúa đã lập Bí tích Truyền Chức để thánh hoá một số người làm trung gian giữa Thiên Chúa và Dân  Người.
Nghi thức truyền chức: Giám mục đặt tay trên đầu người lĩnh nhận và đọc lời thánh hiến. Qua đó, Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên  các vị tân chức và ban ơn cho các vị đó được thi hành tác vụ theo chức vị của mình.
Giám mục là người được kế vị các tông đồ, có chức tư tế sung mãn; chức tư tế của linh mục phụ thuộc giám mục. Phó tế là người giúp việc tế lễ, rao giảng Lời Chúa và thực thi  bác ái.
Kết luận
     Chúng ta đã tìm hiểu bảy Bí tích Chúa Giêsu đã lập làm phương thế cho Hội Thánh, để thánh hóa chính mình và thánh hóa muôn dân thành môn đệ của Chúa. Bốn Bí tích chúng ta vừa nghe là dấu chỉ để con người gặp gỡ Thiên Chúa và Thiên Chúa gặp gỡ con người.
Qua đó, Chúa ban ơn, chữa lành, chúc phúc cho con người, giúp cho Hội Thánh chu toàn bổn phận sống xứng đáng là con Chúa ở đời này và đời sau.
Ý thức như vậy, chúng ta tin tưởng và năng lĩnh nhận các Bí tích để được Chúa nâng đỡ ủi an. Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện, đặc biệt sẵn sàng gặp gỡ chúng ta qua dấu chỉ các Bí tích.
Thấy được ý nghĩa và mục đích cao cả như vậy, mỗi người chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn sốt sáng để lĩnh nhận Bí tích cách xứng đáng.
Gợi ý cầu nguyện: Cảm tạ Chúa Giêsu đã lập các Bí tích, để ban muôn ơn thiêng liêng cho chúng ta. Xin cho chúng ta lấy đức tin mà siêng năng lĩnh nhận các Bí tích để được sống đời đời. Đọc kinh Sáng danh.
Câu hỏi
Câu 1: Hãy diễn giải Bí tích Hòa Giải: dấu chỉ bề ngoài là gì, sinh công hiệu thiêng liêng ra sao? Điều kiện để lĩnh thụ và ai là thừa tác viên ban Bí tích?
Câu 2: Hãy diễn giải Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân: dấu chỉ bề ngoài là gì, sinh công hiệu thiêng liêng ra sao? Điều kiện để lĩnh thụ và ai là thừa tác viên cử hành?
Câu 3: Ai là người được lĩnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh: dấu chỉ bề ngoài là gì, sinh công hiệu thiêng liêng ra sao?  Điều kiện để lĩnh thụ và ai là thừa tác viên cử hành?
Câu 4: Hãy diễn giải Bí tích Hôn Phối: dấu chỉ bề ngoài là gì, sinh công hiệu thiêng liêng ra sao? Điều kiện để lĩnh thụ và ai là thừa tác viên cử hành?

 
Bài 22
SINH HOẠT CỦA HỘI THÁNH TRONG THẾ GIỚI
 Dẫn nhập
Chúa Giêsu xuống thế để cứu chuộc con người. Ngài đã hoàn thành sứ vụ Chúa Cha trao phó; chịu Tử Nạn, Phục Sinh và Lên Trời. Ngài đã lập Hội Thánh trên nền tảng các tông đồ, để tiếp tục chương trình cứu độ mãi cho đến tận thế. Ngài trao cho Hội Thánh những phương thế cần thiết để thực thi sứ vụ được trao phó. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu sinh hoạt của Hội Thánh  trong thế giới như thế nào, để thực thi sứ vụ Đức Kitô trao cho.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Chúa Thánh Thần ban ơn soi sáng, để ta hiểu biết ý nghĩa và ơn ích của các việc đạo đức theo truyền thống Hội Thánh để lại. Đọc kinh Sáng soi.
I. Sứ vụ của Hội Thánh
Chúa Giêsu đã trao cho Hội Thánh hai nhiệm vụ: rao giảng Tin Mừng và thánh hóa muôn dân, làm cho họ trở nên một đoàn chiên theo một Chúa Chiên.
Hội Thánh dùng hai phương thế Chúa trao, là kho tàng mạc khải Lời Chúa và các Bí tích, để chu toàn sứ mệnh của mình.
Theo truyền thống của Hội Thánh từ thời các tông đồ, ai gia nhập đạo đều được trao cho sứ mệnh rao giảng, thánh hóa thế giới và chính mình, thực hiện Giao Ước Mới đã ký kết lúc lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Sứ vụ đó có tính cách cộng đồng. Hoạt động với tính cách cộng đồng là một đòi hỏi của tôn giáo, thể hiện niềm tin một cách công khai (Hội Thánh đòi hỏi Nhà nước quyền tự do tôn giáo, chứ không phải chỉ quyền  tự do tín ngưỡng, vì tín ngưỡng có tính cách cá nhân hơn là cộng đồng), thực hiện qua các hoạt động với hai chiều kích: cá nhâncộng đoàn.
II. Sinh hoạt của Hội Thánh
 Khi lĩnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu được tham dự vào ba chức vụ: Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế của Đức Kitô cả trong chiều kích cá nhân cũng như cộng đoàn. Vì thế, mỗi tín hữu tuỳ theo phận vụ mà thực thi sứ mạng Đức Kitô trao phó trong đời sống của mình, trên cả hai bình diện cộng đoàn và cá nhân.
1. Sinh hoạt cộng đoàn
a. Thể hiện chức năng Tư tế
Hội Thánh cử hành các buổi Phụng vụ, rao giảng và phân phát ơn Chúa qua các Bí tích để thánh hoá con người. Niên lịch phụng vụ quan trọng nhất là chu kỳ ngày Chúa nhật.
Trong các cử hành Phụng vụ thì đỉnh cao là thánh lễ. Trong thánh lễ gồm có Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh thể:
+ Phụng vụ Lời Chúa: công bố Lời Chúa trong Kinh Thánh  cho cộng đoàn phụng vụ, làm lương thực nuôi dưỡng linh hồn tín hữu.
+ Phụng vụ Thánh thể: tái diễn lại hy tế của Đức Kitô trên thập giá bằng cách thánh hiến bánh và rượu trở thành Thịt và Máu Đức Kitô làm lương thực nuôi dưỡng linh hồn tín hữu.
Thánh Lễ được cử hành đặc biệt vào ngày Chúa nhật. Ngày đó, mọi thành phần của cộng đồng giáo xứ phải đến nhà thờ để cùng dâng lễ. Cộng đoàn nghe Lời Chúa qua các bài đọc Kinh Thánh. Mỗi người đồng dâng lễ với Đức Kitô bằng cách dâng những hy sinh hằng ngày trong đời thường, kết hợp với lễ hy sinh của Đức Giêsu trên Thánh giá và nay tái diễn trên bàn thờ.
b. Thể hiện chức năng Vương đế
Hội Thánh tổ chức các guồng máy cai trị và điều hành từ trung ương đến địa phương (từ Toà Thánh cho tới các giáo phận).
Lưu ý: khác với việc cai trị ở trần gian, việc cai trị trong Hội Thánh chính là phục vụ theo tinh thần của Đức Kitô: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người  đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,26-28).
Mỗi người phải có nghĩa vụ tích cực cộng tác vào chức năng Vương đế bằng cách tuân hành, hợp một lòng, một ý hành động theo chỉ đạo của các đấng bậc trong Hội Thánh.
c. Thể hiện chức năng Ngôn sứ
Việc rao giảng, truyền đạt Lời Chúa cho muôn dân từ trung ương đến địa phương được tổ chức thành các bộ ban. Công cuộc truyền giáo của Hội Thánh đồng thời hướng tới với ba chiều kích: dài, rộng, cao.
+ Chiều cao (sâu): Đào sâu kiến thức giáo lý cho cộng đoàn cũng như cá nhân mỗi người.
+ Chiều dài (dọc): Thế hệ trước có bổn phận truyền lại cho thế hệ sau (ông bà = > cha mẹ => con cái => … ) qua giáo dục Kitô Giáo.
+ Chiều rộng (ngang): Rao giảng Tin Mừng cho hết mọi người ở mọi nơi và mọi thời, không chỉ cho người Kitô mà ưu tiên cho những người chưa biết Chúa.
Để thể hiện bản chất truyền giáo của Hội Thánh, mỗi người tín hữu phải tích cực tham gia vào các tổ chức hoạt động truyền giáo từ trung ương (Toà Thánh) đến địa phương (Giáo phận, Giáo xứ).
2. Sinh hoạt cá nhân
a. Thể hiện chức năng Tư tế
Mỗi tín hữu tham dự Thánh lễ với cộng đoàn nhất là ngày Chúa nhật.
Cầu nguyện, hiến dâng mình cho Thiên Chúa, gặp gỡ tâm giao với Chúa trong đời sống nội tâm của mình.
Trong các kinh đọc khi cầu nguyện thì kinh Lạy Cha là kinh trọng nhất vì kinh này do chính Đức Giêsu đã dạy các tông đồ cầu nguyện (x.Mt 6,7-13).
Giới thiệu học kinh Lạy Cha (giải nghĩa bảy lời trong kinh đó, để người dự tòng hiểu nội dung cầu nguyện theo mẫu Chúa dạy).
b. Thể hiện chức năng Vương đế
Trước hết, mỗi tín hữu làm chủ bản thân: sửa trị nết xấu, hãm mình đền tội, chay tịnh, sám hối (giới thiệu học kinh Ăn Năn Tội và năng lĩnh nhận Bí tích Hoà giải).
Điều hành chính gia đình của mình, dạy dỗ con cháu theo lề luật Chúa.
Tham gia vào các cơ cấu quản trị của Hội Thánh từ địa phương đến toàn cầu …
Đặc biệt qua việc thực thi bác ái bằng nhiều cách khác nhau (quỹ bác ái, thực thi theo nội dung kinh Mười bốn mối … giới thiệu và giải nghĩa kinh này).
c. Thể hiện chức năng Ngôn sứ
Để thực hiện truyền giáo chiều sâu cho chính mình, mỗi tín hữu hằng ngày phải đọc và suy niệm Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước (giới thiệu đọc Lời Chúa theo lịch phụng vụ).
Tích cực tham gia vào các hoạt động truyền giáo của Hội Thánh tuỳ theo khả năng và điều kiện có thể: bằng việc làm cụ thể, bằng lời nói trực tiếp với các cá nhân và bằng cách gián tiếp là góp tiền của hỗ trợ cho việc truyền giáo.
Việc truyền giáo quan trọng nhất là bằng đời sống chứng tá của mình, làm gương sáng lôi cuốn người khác.
Kết luận
Ngay từ ngày Hội Thánh lĩnh nhận sứ mạng mà Đức Kitô trao phó cho các tông đồ, Hội Thánh luôn thi hành lệnh truyền của Chúa với cả hai chiều kích: cộng đoàn và cá nhân cho tới nay đã được hơn 20 thế kỷ.
Hội Thánh đã thiết lập nên những tổ chức giúp con người thực hiện kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trong thế giới. Để thực hiện điều đó, Hội Thánh đã đưa ra những quy luật gọi là luật Hội Thánh hướng dẫn ta thực thi Giao Ước Mới và chu toàn bổn phận Chúa trao. Cụ thể, một bản luật vắn tắt gồm trong kinh Điều luật Hội Thánh (giải nghĩa kinh này).
Gợi ý cầu nguyện: Xin cho ta được tích cực tham gia các sinh hoạt sống đạo cùng với mọi thành phần  trong Hội Thánh. Đọc kinh Sáng danh.
 
Câu hỏi
Câu 1: Sinh hoạt của Hội Thánh vừa có chiều kích cá nhân, vừa có chiều kích cộng đoàn. Hội Thánh thể hiện chức năng Tư Tế, Vương Đế và Ngôn Sứ theo chiều kích cộng đoàn như thế nào?
Câu 2: Mỗi người tín hữu thể hiện chức năng Tư Tế, Vương Đế và Ngôn Sứ trong Hội Thánh theo chiều kích cá nhân như thế nào?
Câu 3: Từ ngày Chúa Giêsu lập Hội Thánh và trao cho sứ mệnh tới nay, Hội Thánh đã thiết lập những tổ chức nào và đưa ra những qui luật nào để thực thi sứ vụ Chúa trao phó?

 
Bài 23
LỊCH SỬ  HƠN 2000 NĂM CỦA HỘI THÁNH
 Dẫn nhập
Hội Thánh đã thực hiện lệnh truyền của Chúa Kitô suốt hơn 2000 năm qua và còn tiếp tục thi hành mãi cho đến khi mọi người thành một đoàn chiên theo một Chúa Chiên. Nhờ đó, Hội Thánh đã phát triển tiệm tiến theo dòng lịch sử, đúng như những hình ảnh mà Chúa Kitô nói tiên tri trong dụ ngôn: Nước Trời như hạt cải là loại hạt nhỏ nhất nhưng khi cây lớn lên, chim trời đến đậu trên cành nó được (x.Mt 13,31-32). Chúng ta cùng nhau nhìn lại những chặng đường lịch sử mà Hội Thánh đã trải qua.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin Chúa Thánh Thần ban ơn soi trí mở lòng, để ta nhận ra dấu chỉ thần linh nơi Hội Thánh qua các biến cố lịch sử trên thế giới. Đọc kinh Sáng soi.
1. Ngàn năm thứ nhất: (Kitô hóa lục địa Châu Âu)
Đầu tiên Hội Thánh là nhóm Mười Hai người (Mc 3,13-19) một nhóm người dân quê ít học, phần lớn là dân chài. Khi được Chúa Giêsu tuyển chọn, các ông rất kém cỏi, nhút nhát thiển cận. Thế nhưng vào ngày lễ Ngũ Tuần, được đầy Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã mạnh dạn đi rao giảng Tin Mừng. Thánh Phê-rô giảng bài đầu tiên đã có thêm khoảng 3000 người theo đạo (x.Cv 2,1-41). Chúa Thánh Thần đã biến đổi các tông đồ trở thành những chứng nhân hùng hồn cho Chúa Giêsu Phục Sinh. Họ đã làm cho rất nhiều người theo Đạo. Trước sự kiện đó, các vị cầm quyền Do Thái lo sợ và tìm cách bắt bớ Hội Thánh. Chính Phao-lô cũng là người bách hại Hội Thánh, nhưng được Chúa gọi trở lại trên đường Đa-mát và trở thành tông đồ dân ngoại (câu chuyện Phao-lô trở lại, x.Cv 9,1-19).
Cuộc bách hại tại Giê-ru-sa-lem không thể dẹp được đạo Chúa. Nhờ đó, mà các tín hữu tị nạn sang các nước lân cận, và việc truyền giáo đã lan rộng ra trong các dân ngoại. Đạo Chúa đã vượt được ranh giới hạn hẹp của dân tộc Do Thái để mở rộng ra cho muôn dân.
Công Đồng đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem năm 49, các tông đồ cho phép người ngoại trở lại đạo Chúa không phải chịu phép cắt bì của Do Thái Giáo (x.Cv 15,5-21). Nhờ cuộc cách mạng đó mà khắp thế giới được làm con cái Chúa.
Từ Giê-ru-sa-lem, Đạo Chúa lan rộng khắp Địa Trung Hải, tới Rô-ma, nhờ có chung một nền văn hóa Hy-lạp. Với sự nhiệt tình và sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã rao giảng sứ điệp Tin Mừng của Đức Kitô đến với mọi  người, mọi nơi (người nghèo, người bị bỏ rơi, mọi tầng lớp xã hội trong khắp đế quốc La-mã). Thánh Phê-rô và Phao-lô đã đến rao giảng Tin Mừng và chịu tử đạo tại Rô-ma, nên về sau thủ đô Hội Thánh được đặt ở đó.
Tuy nhiên, Đạo Chúa cũng gặp phải những cơn bách hại ghê gớm từ phía các vị hoàng đế bạo chúa ở Rô-ma như: Nêron, Trajan, Dexio-Clexiano. Nhưng trải qua 300 năm bị bách hại, đạo Chúa vẫn tiếp tục lan rộng và ăn sâu vào toàn dân, khắp nơi trong đế quốc La-mã. Tới đầu thế kỷ thứ IV, Tin Mừng Chúa được lan rộng toàn lãnh thổ đế quốc La-mã (Rô-ma) nhờ chiếu chỉ tha đạo (năm 313) của hoàng đế Constantin (kể lý do hoàng đế trở lại đạo). Đạo Chúa từ chỗ bị bách hại đã trở thành quốc giáo.
Nhờ ơn Chúa, việc truyền giáo trong thời gian này rất thuận lợi và đã làm cả khối dân trong phần đất của đế quốc La-mã dễ dàng theo đạo Chúa Kitô.
Nhưng từ thế kỷ thứ VI trở đi, các bộ tộc Man Di phía Bắc đã tràn xuống xâm lấn các miền đất của đế quốc La-mã. Dần dần, họ đã chia cắt đế quốc ra làm nhiều vương quốc nhỏ, đồng hoá với dân bản địa và trở thành các nước Châu Âu ngày nay. (Thí dụ: bộ tộc Franc chiếm xứ Gaule sau thành dân nước Pháp, bộ tộc Anglo-saxon chiếm Đảo Quốc ngày nay là nước Anh, v.v...). Hội Thánh lại phải vất vả rao giảng Tin Mừng và Kitô hoá các dân tộc mới này. Cụ thể, lịch sử ghi lại vua Clovis và hoàng hậu Clotinda trở  lại đạo Chúa Kitô đã làm cho cả nước Pháp theo đạo và trở thành quốc giáo. Cuối cùng, cả khối các dân mới ở Châu Âu đều theo Kitô Giáo.
Như vậy trong ngàn năm thứ nhất, Hội Thánh khởi đầu từ Mười Hai vị tông đồ (người Do Thái) đã Kitô hóa trọn vẹn cả lục địa Châu Âu.
2. Ngàn năm thứ hai: (Kitô hóa lục địa Châu Mỹ và Châu Đại Dương)
Sang ngàn năm thứ hai, hầu hết cả lục địa Châu Âu đã theo đạo nên việc truyền giáo ngưng lại: bản chất của Hội Thánh bị mai một, từ đó dẫn đến việc chia rẽ Hội Thánh Đông-Tây vào năm 1054.
 Vào đầu thế kỷ VII tại bán đảo Ả-rập, Hồi Giáo phát sinh và lan rộng. Thế kỷ XII, Hồi Giáo lớn mạnh, đưa quân xâm chiếm các vùng Kitô Giáo và phá tan hết Kitô Giáo ở Bắc Phi, Tiểu Á… rồi tiến quân sang Tây Âu. Trước biến cố đó, Kitô Giáo đã tổ chức Đạo Binh Thánh Giá, để chống lại quân Hồi Giáo nhằm giải phóng Mộ Thánh Chúa ở Giê-ru-sa-lem. Kết quả về quân sự và chính trị của Đạo Binh Thánh Giá không có gì đáng kể. Nhưng chính sự kiện đó đã làm cho Hội Thánh Tây Phương đoàn kết với nhau và lập lại kỷ cương. Thế kỷ XVI, đại quân Hồi Giáo đánh vào nước Ý nhằm phá tan thủ đô Hội Thánh. Hưởng ứng lời Đức Pi-ô V, Kitô Giáo đã tập hợp lực lượng đánh tan quân Hồi Giáo vào năm 1571. Đây là lần cuối cùng, Hồi Giáo bị Kitô Giáo chặn đứng bước bành trướng.
Trở lại thời bình, đời sống Hội Thánh lại sa sút, phát sinh nhiều gương mù gương xấu, dẫn đến phong trào cải cách tôn giáo làm phân rẽ Hội Thánh bên Tây Phương.
Thế kỷ XVI, xuất hiện Tin Lành và Anh Giáo. Đứng đầu là Luther (Đức), Calvin (Pháp), Henry VIII (Anh). Phong trào tôn giáo cải cách này đã làm cho Hội Thánh bị chia rẽ rất lớn.
Khi ấy, các đức giám mục đã họp Công Đồng Tren-tô (1545-1563) để cải tổ lại Hội Thánh. Trước thời đó, năm 1492, Cô-lôm-bô là người đầu tiên đã phát hiện ra Châu Mỹ. Từ đó, Hội Thánh lại bắt đầu tiếp tục xúc tiến việc truyền giáo tại Châu Mỹ và các châu lục xa xôi.
Ngành hàng hải phát triển, các nhà buôn đã vượt tới các nước xa xôi ở Châu Úc, Châu Á. Đi theo họ là các nhà truyền giáo đem Tin Mừng Đạo Chúa đến cho các dân tộc tại các nước đó. Tin Mừng chính thức đến Á Châu: năm 1542, Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê đem Tin Mừng đến thành phố Goa (Ấn Độ), Nhật Bản (1549). Đồng thời các nhà truyền giáo khác đã tới hầu hết các nước Viễn Á: Macao (1557), Philipin (1564) và Việt Nam (1533).
Vậy ngàn năm thứ hai, Hội Thánh đã Kitô hoá được hoàn toàn Châu Mỹ, Châu  Úc và ¼ Châu Phi, và đặt chân tới tất cả các nước Châu Á.
3. Hướng tới ngàn năm thứ ba: (Sẽ đạt được thành quả to lớn tại châu Á)
Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói tiên tri về hoạt động truyền giáo của Hội Thánh  như sau: “Vào ngàn năm thứ ba này, công cuộc truyền giáo của Hội Thánh sẽ gặt hái được kết quả hết sức lớn lao ở Châu Á”.
Đường hướng của Hội Thánh nhắm tới hoạt động truyền giáo tại Á Châu trong thiên niên kỷ thứ ba là hội nhập Tin Mừng vào các nền văn hoá.
 4. Lịch sử  gần 500 năm truyền giáo tại Việt Nam và sự hình thành các Giáo phận
Theo lịch sử để lại (Khâm định Việt Sử), năm 1533, lần đầu tiên Tin Mừng đã được đón nhận tại Việt Nam do giáo sĩ I-ni-khu đến giảng đạo tại Ninh Cường - Quần Anh - Trà Lũ (nay thuộc tỉnh Nam Định).
- Năm 1550, Dòng Đa Minh vào truyền giáo tại Việt Nam.
- Năm 1583,  Dòng Phan-xi-cô vào Việt Nam.
- Năm 1615, Dòng Tên vào Việt Nam, nhờ đó mà công cuộc truyền giáo mới có qui mô và kết quả cao.
Nhờ việc hội nhập văn hóa của Dòng Tên nên đạo Chúa bắt đầu lan rộng và ăn sâu vào lòng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt năm 1651, lần đầu tiên cha Đắc Lộ cho xuất bản cuốn Từ điển Việt-Bồ-La và cuốn Phép giảng Tám ngày bằng chữ quốc ngữ ở Rô-ma. Chính ngài đã lập nên Hội Thầy giảng …
- Năm 1622, Hội Thánh đã lập Thánh bộ truyền giáo và trực tiếp điều hành các công việc truyền giáo tại Việt Nam.
- Năm 1659, Toà Thánh thiết lập 2 Giáo phận đầu tiên tại Việt Nam: Đàng Trong và Đàng Ngoài.
- Năm 1668, Đức cha Lam-be-de-la-Mót đã truyền chức cho 4 linh mục đầu tiên của Việt Nam tại Thái Lan (vì khi đó tại Việt Nam đang cấm đạo ngặt).
- Năm 1670, Hội Thánh Việt Nam họp Công Đồng đầu tiên tại phố Hiến (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay).
- Năm 1933, Đức Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Bá Tòng được tấn phong giám mục. Ngài là vị giám mục tiên khởi của Việt Nam.
- Năm 1960, Toà thánh thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam (24/11/1960).
- Năm 1980, thành lập Hội Đồng Giám Mục toàn quốc Việt Nam và họp đại hội đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước.
Hội Thánh Việt Nam hiện nay có 26 Giáo phận, chia thành ba Giáo tỉnh: Hà Nội, Huế và Thành Phố Hồ Chí Minh. Con số Kitô hữu lên tới khoảng 6 triệu trong cả nước.
Tuy nhiên, việc truyền giáo tại Việt Nam, theo qui luật phát triển đạo Chúa, cũng gặp nhiều cơn bách hại đạo dữ dội trong suốt hơn 300 năm. Có những cuộc bách hại không kém phần tàn ác so với thời Nêron đế quốc La-mã xưa. Nhất là những cuộc bách hại thời các vua triều Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Có cả những cuộc thảm sát tập thể dân Kitô hữu thời Văn Thân. Trong tất cả các cuộc bách hại, có tới trên 130 ngàn người bị thảm sát vì đạo. Trong số đó, ngày 19/6/1988 Đức Gio-an Phaolô II đã tôn phong 117 vị Tử đạo Việt Nam lên bậc Hiển thánh và ngày 05/03/2000, ngài đã tôn phong thầy giảng An-rê Phú Yên lên bậc chân phước. Hiện nay, còn hàng nghìn hồ sơ của các chứng nhân anh dũng Việt Nam đang được lưu giữ tại văn phòng của Bộ phong thánh ở Rô-ma.
Kết luận
Trên đây là lịch sử  hơn 2000 năm của Hội Thánh mà Đức Kitô đã lập trên nền tảng các tông đồ, trải qua bao thăng trầm như lời Đức Giêsu đã nói: “Anh là Phê-rô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).
Thật vậy, ngay từ thời sơ khai cho tới nay, Hội Thánh luôn bị bách hại và chống phá khắp nơi mà không bị tiêu diệt; trái lại vẫn phát triển và đi sâu vào lòng người. Điều đó, chứng tỏ Hội Thánh thực là của Chúa. Hội Thánh tuy có cơ cấu trần gian nhưng có linh hồn là Chúa Thánh Thần và có Đầu là Đức Giêsu Kitô.
Như thế, khi Hội Thánh đã phát triển tới mức viên mãn, loài người trở nên một đoàn chiên theo một Chúa Chiên thì Hội Thánh sẽ đi về đâu? Chúng ta sẽ tìm hiểu ở bài sau.
Gợi ý cầu nguyện: Tuyên xưng niềm tin vào Hội Thánh của Đức Kitô là thực thể thiên linh được chứng minh qua lịch sử thế giới. Xin cho Hội Thánh được ngày càng lớn mạnh. Đọc kinh  Sáng danh.
Câu hỏi
Câu 1: Qua hơn 2000 năm lịch sử, Hội Thánh không ngừng phát triển như được diễn tả trong dụ ngôn Hạt cải. Vậy ngàn năm thứ nhất công cuộc truyền giáo của Hội Thánh thực hiện tới đâu?
Câu 2: Trong ngàn năm thứ hai, những châu lục nào của thế giới đã được Kitô hoá toàn bộ, Kitô hoá một phần?
Câu 3: Hướng tới ngàn năm thứ ba, Hội Thánh sẽ xúc tiến việc truyền giáo ở châu lục nào? Theo lời tiên tri của đấng nào?
Câu 4: Hãy kể lại những mốc lịch sử quan trọng của gần 500 năm truyền giáo ở Việt Nam?

 
Bài 24
HỘI THÁNH HƯỚNG VỀ TRỜI MỚI-ĐẤT MỚI
 
Dẫn nhập
Hội Thánh đã thi hành lệnh truyền của Chúa Kitô là rao giảng Tin Mừng và thánh hoá muôn dân. Nhờ đó, Tin Mừng đã đến khắp nơi trên hoàn cầu. Tuy nhiên, còn nhiều người chưa được đón nhận Tin Mừng và trong cuộc đời của mỗi người con Chúa cũng vẫn còn những vết đen chưa được thanh tẩy, thánh hoá. Bao lâu còn tình trạng lẫn lộn “Cỏ lùng với lúa”(x.Mt 13,24-30) thì bấy lâu còn  lý do để cho Hội Thánh tiếp tục tồn tại. Hội Thánh còn phải vượt qua nhiều thử thách gian nan trong sứ vụ Chúa trao để đưa dẫn mọi người, mọi dân nước, hướng về Trời Mới-Đất Mới trên cả hai  bình diện: cộng đoàn và cá nhân.
Gợi ý cầu nguyện đầu giờ: Xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, để qua các dấu chỉ thời đại ta nhận ra tương lai vững bền của Hội Thánh xây dựng trên nền đá Phê-rô. Đọc kinh Sáng soi.
 1. Bình diện cộng đoàn
 Nước Chúa phải được mở rộng khắp nơi và ăn rễ sâu vào các nền văn hoá của các dân tộc như men trong bột (x.Mt 13,33). Tuy nhiên, hiện nay trong Hội Thánh cũng như trong thế giới luôn có sự xen lẫn giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự thiện và sự ác, giữa người lành và kẻ dữ … Đó chính là lý do mà Hội Thánh Đức Kitô còn tồn tại cho tới khi hoàn tất sứ vụ là làm Tin Mừng được thấm sâu vào mọi dân, mọi nước. Bao lâu còn có người tội lỗi, còn có người chưa đón nhận Tin Mừng bấy lâu Hội Thánh còn có lý do để tồn tại trên trần gian. Cho nên, không lạ gì ngay trong lòng Hội Thánh vẫn còn tình trạng cỏ lùng lẫn lộn với lúa như dụ ngôn Chúa dạy (x.Mt 13,24-30).
 Chính Chúa Giêsu đã xác định rõ mục đích của Ngài cũng như của Hội Thánh là để phục vụ cho những người chưa đạt tới sự thánh thiện: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc… Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (x.Mt 9,12-13).
Nước Chúa hiện tại đang mở rộng khắp nơi, dù gặp nhiều trở ngại nhưng chắc chắn sẽ tất thắng, vì Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong Hội Thánh của Người. Vì có Đức Kitô là Đầu Hội Thánh lãnh đạo cuộc chiến, như Lời Ngài phán: “Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).
 Khi nào tất cả mọi người trên thế giới này trở về với Chúa Kitô, thì  ngày đó chính là ngày cánh chung; ngày mà Đức Kitô toàn thắng trong vinh quang của Thiên Chúa. Đó là ngày Trời Mới-Đất Mới được thực hiện thành toàn như sách Khải Huyền tiên báo. Khi ấy, công lý và hoà bình sẽ ngự trị trên khắp hoàn cầu tức là Đất Mới. Hội Thánh hoàn thành sứ vụ của mình  ở trần gian và thành Thánh Giê-ru-sa-lem trên trời sẽ xuất hiện, tức là Trời Mới, nơi Hội Thánh được vinh quang trong Nước Thiên Chúa ngự trị (x.Kh 21).
 Ngày ấy xảy ra sớm hay muộn là tuỳ thuộc vào công cuộc truyền giáo của Hội Thánh và sự dấn thân cộng tác của mỗi người chúng ta trong tiến trình Phúc Âm hoá xã hội và thánh hoá chính mình.
 Trong tiến trình phấn đấu cho Nước Chúa mau trị đến, Hội Thánh có một phần tử siêu quần mẫu mực và nêu gương sáng phi thường là Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Chúa Giêsu và cũng là Mẹ các tín hữu chúng ta. Mẹ đã đi tiên phong trên con đường phấn đấu nên thánh, và đã được Thiên Chúa cất nhắc lên trời cả hồn xác. Mẹ nên gương sáng thôi thúc chúng ta noi theo, bắt chước. Mẹ lên nơi vinh hiển như niềm hy vọng tiên báo đoàn con của Mẹ sẽ tới nơi mà Mẹ đã tới đích. Trên Thiên Quốc, Mẹ Maria tiếp tục bầu cử, che chở đoàn con đang khổ công lữ hành về quê trời. Ta hãy tôn kính, mến yêu Mẹ nhân lành và cầu xin, trông cậy ở sự bảo trợ của Mẹ trên trời.
Một phương châm hướng dẫn chúng ta trong việc tôn sùng Mẹ Maria đó là nên giống Chúa Giêsu trong cương vị làm con Mẹ. Ta phải coi Chúa Giêsu là người Anh cả, nêu gương cho đoàn em bắt chước Ngài trong mối quan hệ với người Mẹ thiêng liêng của nhân loại.
Nếu Chúa Giêsu khi đến với trần gian đã chọn con đường làm con Đức Mẹ Maria, thì cũng theo con đường đó người tín hữu nên thánh bằng cách làm con Đức Mẹ Maria như Ngài.
Chúa Giêsu và Đức Mẹ đều đã thưa tiếng “Xin Vâng” với thánh ý Thiên Chúa thì con cái của Mẹ cũng phải nên giống như người Mẹ và người Anh cả của mình cùng chung một dòng máu vâng theo thánh ý Thiên Chúa. “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?… Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (x.Mt12, 46-50). Đó là cách tôn sùng đúng nghĩa nhất đối với Mẹ trên trời.
Theo truyền thống của Hội Thánh, ta hãy năng đọc kinh “Kính Mừng” để ngợi khen và cầu xin Mẹ trên trời (giới thiệu kinh Kính Mừng).
 Hội Thánh cũng còn những phần tử ưu tú là Các Thánh Nam - Nữ trên trời. Các Ngài là những người con của Hội Thánh, đã hoàn thành xuất sắc cuộc lữ hành dương thế, đã đạt tới sự thánh thiện và nay đang được trọng thưởng trên trời. Ta hãy noi gương các Ngài và cầu xin trông cậy ở sự phù trợ ưu ái của các Ngài dành cho đoàn em là chúng ta còn đang phải phấn đấu dưới trần.
2. Bình diện cá nhân
Ngay trong cuộc đời của mỗi người con Chúa cũng có những đối kháng giữa ân sủng và tội lỗi, giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối … Vì thế, con người luôn phải đấu tranh với chính mình để Nước Chúa ngự trị nơi tâm hồn, để mỗi ngày mỗi nên thánh theo gương Đức Mẹ Maria, mẫu gương thánh thiện của Hội Thánh.
Thánh Phao-lô đã cho thấy kinh nghiệm chiến đấu nội tâm của Ngài như sau: “Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,15).
Khi nào ta chết, cuộc chiến nội tâm đó mới chấm dứt. Đó chính là ngày cánh chung của mỗi người. Chết không phải là hết nhưng là bắt đầu một cuộc sống mới. Vì thế, người ta còn gọi giờ chết là sinh thì (nghĩa là thời sống).
Ngày ấy, mỗi người được thưởng phúc Thiên Đàng hay bị phạt Hoả Ngục là do cách sống của mỗi người khi còn ở trần gian (làm lành hay làm dữ, trung thành với Giao Ước hay bất trung). Sau khi chết, mỗi người sẽ đến trước toà Chúa để chịu phán xét riêng về những việc mình đã làm khi còn sống.
Ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết (phán xét chung) như Ngài tiên báo trong dụ ngôn Ngày Cánh Chung (x.Mt 25, 31-46).
 Thiên đàng, Luyện ngục và Hoả ngục là những trạng thái tâm linh thiêng liêng, chứ không phải là những nơi chốn trong không gian vũ trụ vật chất, như có người lầm tưởng Hỏa ngục là ở sâu trong lòng đất, còn Thiên đàng ở trên trời cao.
+ Thiên đàng là tình trạng hoàn toàn hạnh phúc, được bình an trong tâm linh. Ở đó, các thiên thần và những người lành  được  sống với Thiên Chúa đời đời và yêu mến Ngài hết lòng.
+ Hoả ngục là tình trạng không được sống với Thiên Chúa, khổ cực nội tâm trong mối hận ngàn đời vì những chọn lựa sai lầm của mình mà đời đời phải bất hạnh, xa lìa Thiên Chúa là Đấng vô cùng thiện hảo.
+ Luyện ngục là tình trạng thanh luyện những người khi chết còn mắc tội nhẹ. Những người này biết mình sẽ được về với Chúa. Nhưng vì thấy mình còn mắc bợn nhơ chưa xứng đáng đến gần Chúa là Đấng Chí Thánh, họ chờ mong như lửa đốt trong lòng tới ngày được thanh tẩy trọn vẹn để được sống với Chúa là nguồn hạnh phúc. Nhưng sau cái chết, họ không còn có thể lập công đền tội cho mình nữa. Họ chỉ còn nhờ được ơn hiệp thông giúp đỡ của các tín hữu còn sống. Vì thế, những người còn sống cần siêng năng xin lễ, đọc kinh cầu nguyện cho họ, để họ sớm được thanh luyện trọn vẹn mà về với Chúa. Đó là những điều chúng ta tuyên xưng trong  phần cuối kinh Tin Kính (giới thiệu học kinh này).
Kết luận
Chúng ta đã cùng nhau tìm hiều sơ lược lịch sử Kitô Giáo, từ Mạc Khải tự nhiên đến Mạc Khải siêu nhiên trọn vẹn nơi Đức Kitô và được lưu truyền lại trong Hội Thánh cho tới nay. Mục đích của Kitô Giáo nhằm cho con người được hạnh phúc đời này và đời sau qua hai phương thế mà Chúa Kitô đã trao cho Hội Thánh là Lời Chúa và các Bí tích. Hội Thánh  đã dùng hai phương thế đó để thi hành sứ mạng là rao giảng Tin Mừng và thánh hóa muôn dân. Tới khi nào muôn dân muôn nước trở thành một đoàn chiên theo một Chúa Chiên, lúc đó Hội Thánh trở thành vương quốc thiên linh  như trong sách Khải huyền đã tiên báo là Trời Mới-Đất Mới, có Chúa Kitô ngự trị. Để được hạnh phúc làm con cái Chúa trong Hội Thánh, mỗi người chúng ta hãy thiện chí lắng nghe, thành tâm tìm hiểu và lựa chọn sống theo con đường Chúa Kitô đã mạc khải và lời Hội Thánh dạy mà chúng ta đã học hỏi trong suốt thời gian vừa qua.
Gợi ý cầu nguyện: Cám ơn Chúa vì khoá học hiểu đạo Chúa đã xong. Xin Chúa cho ta được niềm tin vững mạnh để sốt sắng chuẩn bị lĩnh Bí tích Khai tâm gia  nhập đoàn con cái Chúa.
Đọc kinh Tin kínhSáng danh. 
 
 Câu hỏi
Câu 1: Chúa Giêsu lập Hội Thánh, giao cho sứ vụ loan báo Tin Mừng và thánh hoá nhân loại. Vậy bao giờ Hội Thánh hoàn thành sứ vụ đó? Tương lai của Hội Thánh sẽ đi về đâu? Bao giờ đến ngày tận thế?
Câu 2: Xét về bình diện cộng đoàn, Hội Thánh phải mở rộng Nước Chúa khắp các dân các nước. Hiện nay, Hội Thánh đã thực hiện được đến đâu? Có những khó khăn gì? Và dựa vào đâu mà ta tin chắc chắn Hội Thánh hoàn thành nhiệm vụ đó?
Câu 3: Đức Maria ở địa vị nào nơi Hội Thánh trên Thiên quốc? Mẹ đảm nhiệm vai trò gì nơi Hội Thánh lữ hành ở trần gian? Ta phải làm gì để tôn sùng Đức Mẹ cho phù hợp với giáo lý chân chính?
Câu 4: Xét về bình diện cá nhân, Ngày tận thế là ngày nào đối với bạn? Bao giờ ngày đó tới? Từ nay đến ngày đó, bạn phải làm gì? Bạn hiểu thế nào về Thiên đàng, Luyện ngục và Hoả ngục?

 
PHỤ LỤC
 
I. MỘT VÀI SỰ KIỆN VỚI NGÀY THÁNG*
1. NGUYÊN THUỶ
          Mặt trời, mặt trăng                                                    4.700.000.000
          Trái đất                                                                    3.600.000.000
          Loài người (Homo habilis)                                                2.000.000
2. CÁC TỔ PHỤ
          Tổ phụ Áp-ra-ham đến Ca-na-an                                             1.850
          Các tổ phụ qua Ai-cập                                                           1.700
3. HAI ÔNG MÔ-SÊ GIÔ-SUÊ
          Ông Mô-sê và cuộc Xuất hành                                      1.250-1.220
          Ông Gio-suê vào xứ Pa-lét-ti-na                                    1.220-1.200
4. TỪ THỦ LÃNH ĐẾN VUA SA-LÔ-MÔN
Các thủ lãnh                                                                1.200-1.025
Ông Sa-mu-en                                                                      1.040
Vua Sao-lô                                                                  1.030-1.010
Vua Đa-vít                                                                      1.010-970
đánh lấy Giê-ru-sa-lem                                                           1.000
Vua Sa-lô-mon                                                                  970-931
xây đền thờ                                                                             966
Nam Bắc phân tranh                                                                931
5. ÍT-RA-EN
Gia-ráp-am I                                                                      931-910
Om-ri                                                                                885-874
thiết lập thủ đô Sa-ma-ri                                                           880
Sa-ma-ri thất thủ                                                                722-721
Dân Ít-ra-en đi đày
Dân ngoại đến ở
6. GIU-ĐA
Vua GIO-SI-A                                                                    640-609
tìm thấy sách Luật và canh tân tôn giáo                                     622
Vua GIOI-A-KIM                                                                609-605
chư hầu cho đế quốc Ai-cập                                               609-605
chư hầu cho đế quốc BA-BI-LON                                        605-597
Vua  GIOI-A-KIN                                                               598-597
Giê-ru-sa-lem đầu hàng                                                            597
dân đi đày (đợt thứ nhất)
Vua XÊ-ĐÊ-KI-A                                                                597-587
Giê-ru-sa-lem thất thủ                                                               587
Đền thờ và thành bị phá huỷ                                                     587
Dân thành đi đày (đợt thứ hai)                                                       
Tổng trấn GIƠ-ĐA-LI-A                                                             587
tổng trấn bị ám sát                                                                   587
Dân thành đi đày (lần thứ ba)                                              582-581
7. THỜI ĐẠI BA-TƯ                                                             (538-333)
Dân Ít-ra-en hồi hương                                                             538
Xây đền thờ thứ hai                                                           520-515
Lập nước thần quyền gọi là Giu-đê                                            350
8. THỜI ĐẠI HY-LẠP                                                             (333-63)
A-LÊ-XAN-ĐÊ Cả
chinh phục xứ Pa-lét-ti-na                                                         332
A-LÊ-XAN-ĐÊ Cả băng hà                                                        323
Pa-lét-ti-na thuộc quyền họ Tô-lê-mê                                   320-200
Thánh Kinh được dịch sang tiếng Hy-lạp
Pa-lét-ti-na thuộc quyền họ Xơ-lu-cô                                    200-142
Đền thờ cung hiến cho thần Zeus
Ông Giu-đa Ma-ca-bê khởi nghĩa                                               166
Thanh tẩy đền thờ                                                                    164
Dân Do Thái độc lập (triều đại họ Át-mon)                              142-63
9. THỜI ĐẠI RÔ-MA                                                            (63 trở đi)
Tướng Pom-pê và quân Rô-ma
xâm lược Pa-lét-ti-na                                                                 63
Ông An-ti-pa-te cai trị xứ Giu-đê
Vua Hê-rô-đê, con ông An-ti-pa-te, làm vua                        34-4tcn
Khởi công xây cất đền thờ thứ ba                                        20/19tcn
Hoàng đế Rô-ma, Au-gút-tô                                              29tcn-14scn
ĐỨC GIÊSU GIÁNG SINH                                                      7/6tcn
Vua Hê-rô-đê băng hà                                                                4tcn
Tiểu vương Ác-khê-la-ô cai trị Giu-đê-a và Sa-ma-ri                  4tcn- 6scn
Tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pa cai trị Ga-li-lê và Pê-rê                4tcn- 39scn
Tiểu Hê-rô-đê Phi-líp cai trị Gô-lan                                           4tcn- 34scn  
Hoàng đế Au-gút-tô truất phế tiểu vương Ác-khê-la-ô                        6scn
Giu-đê-a biến thành hành tỉnh tổng trấn                                  6scn- 41
Hoàng đế Ti-bê-ri-ô                                                                14-37
Tổng trấn Phi-la-tô                                                                 26-36
Thánh Gio-an Tẩy giả bắt đầu sứ vụ                                            27
ĐỨC GIÊSU lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ vượt qua (Ga 2,13)      28
ĐỨC GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH VÀO THẬP GIÁ VÀ CHỊU CHẾT                                                                                                            
Năm 30 ngày 7 tháng 4 (hoặc năm 33 ngày 3 tháng 4)
ĐỨC GIÊSU SỐNG LẠI                                                             30 hoặc 33
THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG                                                   30 hoặc 33
 
 
II.  KINH NGUYỆN
Dấu Thánh Giá
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.
Kinh Đức Chúa Thánh Thần
Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng, chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con, là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con, chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống.
Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.
Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các thánh Tông đồ, thì rầy chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống, an ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa Chúng con. Amen
Kinh Sáng Danh.
Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen.
Kinh Tin
Lạy Chúa, con tin thật có một Đức Chúa Trời là Đấng thưởng phạt vô cùng. Con lại tin thật Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, mà Ngôi thứ Hai đã xuống thế làm người chịu nạn, chịu chết mà chuộc tội cho thiên hạ. Bấy nhiêu điều ấy cùng các điều Hội Thánh dạy, thì con tin vững vàng vì Chúa là Đấng thông minh và chân thật vô cùng đã phán truyền cho Hội Thánh. Amen.
Kinh Cậy
Lạy Chúa, con trông cậy vững vàng vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu thì Chúa sẽ ban ơn cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên Thiên Đàng xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phúc đời đời. Vì Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy chẳng có lẽ nào sai được. Amen.
Kinh Kính Mến
Lạy Chúa, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy. Amen.
Kinh Lạy Cha
Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con, hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.
Kinh Kính Mừng
Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ.
Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
Kinh Tin Kính
Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.
Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô, là Con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai sinh bởi Bà Maria đồng trinh; chịu nạn đời quan Phong-xi-ô-phi-la-tô, chịu đóng đinh trên Cây Thánh Giá, chết và táng xác; xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy. Amen.
Kinh Thú Nhận
Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Vì vậy, tôi xin Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh, các thiên thần, các thánh và anh chị em khẩn cầu cho tôi trước toà Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Amen.
Kinh  Ăn Năn Tội
Lạy Chúa, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, Chúa đã dựng nên con và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự; con dốc lòng chừa cải và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.
Kinh Sáng Soi
Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.
Kinh Mười Điều Răn.
Đạo Đức Chúa Trời có mười điều răn:
Thứ nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.
Thứ hai:    Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.
Thứ ba:     Giữ ngày Chủ Nhật
Thứ bốn:   Thảo kính cha mẹ.
Thứ năm:  Chớ giết người.
Thứ sáu:   Chớ làm sự dâm dục.
Thứ bảy:   Chớ lấy của người.
Thứ tám:   Chớ làm chứng dối.
Thứ chín:  Chớ muốn vợ chồng người.
Thứ mười:  Chớ tham của người.
Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.
Kinh Điều Luật Hội Thánh
Hội Thánh có năm điều luật:
Thứ nhất: Thánh hoá ngày Chủ nhật cùng các ngày lễ  buộc bằng việc đi dự Thánh lễ và nghỉ việc làm.
Thứ hai:    Xưng tội trong một năm ít là một lần.
Thứ ba:     Lãnh nhận Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh.
Thứ bốn:   Giữ chay và  kiêng thịt những ngày Hội Thánh buộc.
Thứ năm:   Góp tiền của cung ứng cho hoạt động tông đồ của Hội Thánh.
Kinh Bảy Phép Bí Tích
Đạo Đức Chúa Trời có bảy phép Bí Tích:
Thứ nhất:  là Bí tích Thánh Tẩy.
Thứ hai:    là Bí tích Thêm Sức.
Thứ ba:     là Bí tích Thánh Thể.
Thứ bốn:   là Bí tích Hoà Giải.
Thứ năm:  là Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân.
Thứ sáu:   là Bí tích Truyền Chức Thánh.
Thứ bảy    là Bí tích Hôn Phối.
Kinh Mười Bốn Mối
Thương người có mười bốn mối.
Thương xác bảy mối:
Thứ nhất:              Cho kẻ đói ăn.
Thứ hai:                Cho kẻ khát uống.
Thứ ba:                 Cho kẻ rách rưới ăn mặc.
Thứ bốn:               Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.
Thứ năm:              Cho khách đỗ nhà.
Thứ sáu:               Chuộc kẻ làm tôi.
Thứ bảy:               Chôn xác kẻ chết.
Thương linh hồn bảy mối:
Thứ nhất:   Lấy lời lành mà khuyên người.
Thứ hai:                Mở dạy kẻ mê muội.
Thứ ba:                 Yên ủi kẻ âu lo.
Thứ bốn:               Răn bảo kẻ có tội.
Thứ năm:              Tha kẻ dể ta.
Thứ sáu:               Nhịn kẻ mất lòng ta.
Thứ bảy:               Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
Kinh Phúc Thật Tám Mối
Phúc thật tám mối:
Thứ nhất: Ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật, vì chưng Nước Đức Chúa Trời làm của mình vậy.
Thứ hai: Ai hiền lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được Đất Đức Chúa Trời làm của mình vậy.
Thứ ba: Ai khóc lóc ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được yên ủi vậy.
Thứ bốn: Ai khao khát nhân đức trọn lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy.
Thứ năm: Ai thương xót người ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thương xót vậy.
Thứ sáu: Ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thấy mặt Đức Chúa Trời vậy.
Thứ bảy: Ai làm cho người hoà thuận ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy.
Thứ tám: Ai chịu khó vì đạo ấy là phúc thật, vì chưng Nước Đức Chúa Trời làm của mình vậy.

 
            Chúng tôi, các Giám mục chủ toạ khoá hội thảo VII về truyền bá Phúc Âm toàn quốc, tại Nha Trang từ ngày 12-14/11/1974, đồng chấp thuận cho phổ biến và thi hành trong toàn quốc, những quyết định của Ủy ban Giám mục về Truyền bá Phúc Âm ngày 19/04/1972, chiếu theo thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam ngày 14/06/1965, về các nghi lễ tôn kính ông bà tổ tiên như sau:
                Để đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin mừng, hội nghị nhận định: “Những cử chỉ, thái độ, lễ nghi có tính cách thế tục, lịch sử xã giao, để tỏ lòng hiếu thảo, tôn kính và tưởng niệm các tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ, nên được thi hành và tham dự cách chủ động” (Thông cáo HĐGMVN 14/06/1965).
1-   Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch…
2-   Việc đốt hương nhang, đèn nến, trên bàn thờ gia tiên và bái lạy trước bàn thờ gia tiên và giường thờ tổ tiên, là những cử chỉ, thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.
3-   Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ”  trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã … và giảm thiểu, canh cải những lễ vật để biểu dương ý nghĩa thành kính biết ơn ông bà, như dâng hoa trái, hương đèn.
4-   Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ tổ, lễ Gia Tiên” trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà.
5-   Trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất, cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố.
6-   Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng, quen gọi là “Phúc thần” tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn nhưng vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc, hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải vì mê tín như đối với các “Yêu thần, tà thần”.
Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có sự hiểu lầm, nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu, khích lệ, thông cảm… Đối với giáo dân cần phải giải thích cho hiểu việc tôn kính tổ tiên và các vị anh hùng liệt sĩ, theo phong tục địa phương, là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc tôn kính liên quan đến tín ngưỡng, vì chính Chúa cũng truyền “Phải thảo kính cha mẹ”. Đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.
Tại Nha Trang, ngày 14/11/1974.
Đồng ký tên
- Philipphê      Nguyễn Kim Điền             -    TGM. Huế
- Giuse           Trần Văn Thiện                -    GM. Mỹ Tho.
- Giacôbê       Nguyễn Văn Mầu             -    GM. Vĩnh Long.
- Giacôbê       Nguyễn Ngọc Quang        -    GM. Cần Thơ.
- Ph.Xaviê      Nguyễn Văn Thuận          -    GM. Nha Trang.
- Phêrô           Nguyễn Huy Mai              -    GM.Ban Mê Thuật.
- Phaolô         Huỳnh Đông Các              -    GM.Quy Nhơn.

* Tông Hiến Fidei Depositum.
* Thông cáo HĐGMVN năm 1974.
* Đức Thích Ca Mâu Ni sinh khoảng năm 544 trước công nguyên.
* Đức Khổng Tử sinh khoảng năm 561-479 trước công nguyên
* Áp-ra-ham sống khoảng năm 1850 trước công nguyên.
* Theo nghi thức của người Trung Đông thời cổ, khi giao kết với nhau điều gì quan trọng, thì họ xẻ đôi con vật ra, mỗi bên đi qua giữa hai phần con vật xẻ đôi với lời niệm chú trung thành. Khi đã ký kết rồi mỗi bên phải trung thành với Giao Ước, nếu ai phản bội sẽ bị phanh thây như con vật đó.
 
* Mô-sê sống khoảng năm 1250 trước công nguyên.
* x. HOÀNG ĐẮC ÁNH, Lịch Sử Cứu Độ, Sài Gòn 1994, trang  3-6.
* x.Đến với người anh em, năm 1999, trang 98-100.
ĐGM Gioan Maria Vũ Tất
Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin - Giáo Phận Hưng Hóa

|||||
Hãy Đến Vùng Ngoại Biên || Cử Điệu Chính Của ĐHGT Giáo Tỉnh Hà Nội Tại GP Hưng Hóa Năm 2020
Liên kết website
Tiêu điểm
Website www.giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: OnIP™ (www.onip.vn - mCMS).
log